Tướng Nguyễn Chuông

Thiếu tướng Nguyễn Chuông sinh ngày 23/8/1926 tại Phú Thọ, mất 23/3/2006. Tư lệnh Sư đoàn 312 Anh hùng, Sư đoàn 411, Sư đoàn 345, Phó Tư lệnh Quân đoàn 29, Phó Tư lệnh Quân khu II.  Tác phẩm chính: Đường tới chân trời, Tim tôi thắp lửa, Dặm dài trên đất nước Triệu Voi, Đường binh nghiệp của tôi.

Tháng 3 năm 1979

Đám lính mới nhốn nháo xếp hàng trước nhà ăn. Sáu người một. Nhìn hàng ngang mà đếm. Chính lúc ấy có tiếng ôtô gầm gừ cuối hàng quân. Ai đó khẽ thốt lên: "A, Đại tá Nguyễn Chuông...!".

Ngực tôi rung lên. Hơn một tháng nhập ngũ, tôi mới mục kích quân hàm cao nhất của viên Thượng uý Tiểu đoàn trưởng. Tôi bị cái tên Nguyễn Chuông chinh phục. Bởi xung quanh cái tên Nguyễn Chuông có quá nhiều giai thoại.

Một vị đại tá làm thơ, viết văn, yêu thương lính, thẳng thắn hay cãi cấp trên và hay dùng những hình dung từ người không quen nghe dễ đỏ mặt.  Ngoài quân hàm đại tá, Nguyễn Chuông được quê hương, được những người lính nhắc đến như là một trong những niềm tự hào đặc sắc.

Chiếc xe U-oát lầm bụi đỏ.

Trên xe bước xuống hai quân nhân. Một viên sĩ quan cắp cặp da bóng, trán hói, cao lớn, quân phục nghiêm chỉnh, cặp kính đen lớn che gần kín khuôn mặt. Chậc, Đại tá Nguyễn Chuông oai vệ sao.

Quên bữa ăn, tôi tụt lại ngắm cái người mà tôi cho là đại tá kia. Tôi đã đọc thơ của Đại tá Nguyễn Chuông, in trên tạp chí Sáng tác mới của HVHNT Vĩnh Phú và trên Báo Quân đội nhân dân.

Chậm rãi bước xuống sau là một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, nhỏ quắt, mặt trái xoan, chót mũi ửng đỏ, tóc nâu thưa, quần ống thấp ống cao, dép cao su đúc không cài quai. Một tay kẹp điếu thuốc lá ngun ngút khói. Những ngón tay dài, khô quắt thâm đen ám khói thuốc lá sao mà ám ảnh.

Một tay người đó ôm bụng, mặt hơi nhăn lại, nấc lên ợ hơi. Mỗi bước đi gần như phải cần gắng sức hơn bình thường, lệch sang trái. Cánh tay trái không linh hoạt. Tôi thầm đoán, hẳn đây là một "Thượng sỹ Đông Dương" làm chân quản lý hay bếp trưởng mới được tổng động viên trở lại trong năm 1979.

"Thượng sỹ" bỗng hất hàm.

- Sao cậu không vào mà ăn cơm. Đứng đực ra đấy làm gì?...

- Dạ, cháu ăn sau. Cháu xem mặt Đại tá Nguyễn Chuông đã…Tôi vẫn hướng cái nhìn thành kính tôn sùng về phía viên sĩ quan cao lớn.

"Thượng sỹ" thở dài, búng tàn thuốc.

- Cậu biết ông Chuông à?

- Dạ, cháu biết…

- Chắc không?

Giọng vang rè, (sau này tôi mới biết đó là di chứng viên đạn xuyên qua phổi trái) viên "Thượng sỹ" nheo nheo mắt hóm hỉnh, chiếu cái nhìn như xuyên thủng người tôi. Trong tôi bỗng lạnh toát. Trót lỡ lời, may  như có ai xui, tôi vội tiếp:

- Dạ, cháu biết Đại tá Nguyễn Chuông là do cháu đã đọc thơ của ông ấy thôi ạ…

- Thì ra thế… cậu cũng khá nhỉ…

Chiến sĩ lái xe mở bạt lăn xuống một bao tải bồ kết. Viên sĩ quan trán hói, đã kịp dẫn ra mấy chị nuôi quân. Vừa trông thấy "Thượng sỹ", họ đã nhảy lên reo gọi nhau:

- Bố Chuông cho quà chúng mày ơi!…

Mấy chị nuôi quân mồm năm miệng mười quây lấy ông. Không lẽ tôi nghe nhầm, họ vừa gọi "Thượng sỹ" là bố Chuông. Tôi hoảng hồn, lỉnh vội vào cuối nhà ăn.

Ngắm trộm vị đại tá thần tượng của mình, tôi bộn rộn vừa tự hào vừa thất vọng. Giá như ông giông giống sĩ quan phụ tá một chút nhỉ. Tôi tưởng tượng, nếu một ngày chiến trận nào, tôi chiến đấu trực tiếp dưới sự chỉ huy của ông. Giữa hai trận đánh, tôi sẽ mạn phép Đại tá bàn văn chương.

Tôi liếc xuống vai mình. Ôi, cái khoảng cách binh nhì thò lò mũi đến đại tá 30 năm trận mạc thì cũng tương tự như trái đất đến mặt trăng.

Như một sự kỳ lạ, gần năm sau, tôi có dịp gặp và gần gũi ông hơn một tuần, tại Bộ Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 29.

Năm đó, Sư đoàn 411, từ một đơn vị huấn luyện chiến sĩ gái phục vụ hậu cần chuyển thành Trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới. Rèn luyện chiến sĩ mới chiến thuật, kỹ thuật tác chiến, song song bồi dưỡng phẩm chất chính trị, được quan tâm hơn bao giờ.

Một trại viết kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội được Trung tâm tổ chức. May, tôi có tên đi dự trại. Dăm tháng sau, tập sách của phong trào chiến sĩ viết văn, được các nhà văn nổi tiếng trong quân đội, nhuận sắc, chờ ngày ấn bản. Trên đà thắng lợi, Trung tâm quyết định xuất bản tiếp tập thơ. Tập thơ có tên là Ngưỡng cửa màu xanh.

Phần đọc bản thảo, biên tập được nhà thơ Hữu Thỉnh trông nom. Nhà thơ Hữu Thỉnh, cho rằng tập thơ mà có thơ của Đại tá Nguyễn Chuông thì càng chững chạc, trọng lượng. Vì Đại tá Nguyễn Chuông là vị Tư lệnh sư đoàn lừng lẫy nhất trong truyền thống của đơn vị.

Thế rồi, chẳng hiểu sao, tôi được nhận trọng trách đi gặp cựu Tư lệnh Sư đoàn 411 Nguyễn Chuông xin thơ. Trong ba lô của tôi ngoài công văn do Tư lệnh sư đoàn ký, còn kèm theo lá thư tay của Trung tá Trưởng phòng Chính trị gửi Đại tá.

Ấn tượng về những chuyến tàu hồi đó, khó mà diễn tả. Nó là những cái cũi sắt lèn nhốt người, thiếu nước, thiếu ánh sáng, thiếu chỗ vệ sinh. Những thân người nhợt nhạt vì lo nghĩ, thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu cả không khí thở. Người áp sát vào người ba bốn ngày trên con đường sắt.

Tôi mất ba ngày rưỡi vạ vật từ Hà Nội lên đến ga Phố Lu. Đêm tháng 10, vùng biên viễn giá lạnh quánh đặc sương mù. Đó đây trên sân ga, bóng áo quân phục vải bùng nhùng xanh nhợt trải ni lông túm tụm vào nhau, ngồi, nằm đợi sáng. Tôi hỏi vu vơ đường vào Hồng Thắng, nơi có BTL Quân đoàn 29.

Ai đó đã nói rằng: Cứ yên tâm ngủ đi. Đây toàn là lính quân ông Chuông cả. Gì mà ngại. Sáng mai ối người vào đó. Tin là đồng đội với nhau, tôi yên tâm nhập vào đám người trên cái hè nhà ga đổ nát. Trước khi thiếp ngủ, linh tính mách thế nào, tôi ém kỹ giấy tờ và mấy chục đồng vào cái túi ngực. Đầu gối lên ba lô nằm ngủ.

Mãi đến khi còi tàu rúc lúc gần sáng, tôi mới hay rằng mình đang gối lên viên gạch. Chiếc ba lô không cánh mà bay. Những người nằm ngủ cùng chẳng còn một ai.

Trưa gắt nắng. Bộ dạng như lính đào nhiệm, tôi thất thểu tìm đến được BTL Quân đoàn 29. Đọc các giấy tờ của tôi, viên sĩ quan trực ban còn vặn vẹo, vạch vòi mãi mới điện thoại vào bên trong báo cáo.

Tôi nhấp nhổm như ngồi trên lửa. Toàn bộ giấy tờ thư tay, viên sĩ quan đeo băng đỏ đã cầm giữ. Ngộ nhỡ người ta không tin và giam tôi lại chờ điều tra thì sao nhỉ. Tôi sẽ không hoàn thành nhiệm vụ mất.

Nhưng rồi có tiếng nói quen quen, hơi rè, hơi ngân nga của vùng Thượng Nung. Tôi ngó vội qua cửa sổ. Đích thân Nguyễn Chuông ra đón. Tôi không thể tưởng tượng được. Người đàn ông tầm thước, quân phục phẳng phiu, dép nhựa nâu, không đeo quân hàm, nghiêm lạnh, tóc chải ngôi lệch kiểu chính khách. Ông có dáng đi hơi chúi về phía trước. Nhưng vẫn toát ra vẻ hiên ngang, thách thức và đồ sộ. Ông dừng bước chống nẹ, tay búng tàn thuốc. Cái cười ngậm, tủm tỉm hồn hậu, đủ hình dung thời trẻ ông là chàng trai có duyên cỡ nào.

Tôi được dẫn ra đến trước ông. Tôi cảm giác được ánh mắt ngạc nhiên, thông cảm, bao dung từ ông chiếu rọi từ trên cao xuống khắp người. Có lẽ ông thất vọng hình ảnh của tôi.

- Đồng chí lên biên giới mà đi nhõn người không à?

Chẳng hiểu sao, tôi to gan độp luôn:

- Tại lính của bác đã ăn cắp ba lô của cháu đấy chứ…

Thế là tôi kể lể lại sự tình. Càng nói càng tủi thân. Tự dưng bao nhiêu cực nhọc mấy ngày đường lại nỗi ấm ức bị mất cắp ba lô khiến tôi cứ nghẹn ngào lắp bắp. Nước mắt tôi ứa ra. Thật xấu hổ, nhưng dù sao thời điểm đó, tôi mới chỉ 18 tuổi chưa bao giờ xa gấu quần mẹ.

Huấn luyện qua loa, chưa biết tháo lắp súng, thì đã được gọi vào Trại sáng tác. Mà giờ tôi cách nhà mấy trăm cây số, lại đang đứng truớc một ông đại tá. Nhưng lạ, tôi không thấy mảy may sợ hãi gì từ ông nữa. Thì ra bản năng sâu thẳm trong tôi đã hướng tới ông để chia sẻ giọt nước mắt một giây trót yếu lòng.

- Ồ, không sao. Không sao…

Bàn tay mềm ấm, thoảng mùi khói thuốc quệt đi giọt nước mắt trên má tôi. Có vẻ như là ông đã nhớ ra tôi hoặc cũng có thể không nhớ ra tôi. Suốt ba mươi năm trận mạc, dưới quyền ông, đã bao nhiêu là lượt người đến làm lính của ông rồi không thể làm lính của ông.

Thở dài, ông vê nát điếu thuốc đang hút giữa những ngón tay ám khói thuốc.--PageBreak--

Căn nhà nhỏ, dựa lưng vào núi, trần căng một lượt nilon, một lượt vải dù. Nhìn xuống thung lũng. Ngay sau vách nhà là có lối vào hầm chạy sâu vào ruột núi. Một phòng ngủ, phòng làm việc. Tủ sắt, bộ ghế đơn sơ, nhưng có cái bàn là dài rộng lạ thường. Tôi được bố trí xếp ở phòng khách liền kề phòng ông ở. Giường khung sắt, lò xo trải đệm mút. Sạch sẽ tinh khiết chỉ thấy nhuần nhị mùi vải mới ở chăn màn. Phích nước, hộp chè, tủ áo…

Ông nói với viên hạ sỹ phục vụ.

- Cậu này là khách riêng của tôi. 

Anh ta gật đầu, liếc xéo qua mặt tôi vẻ coi thường. Nhưng ông đã kịp bồi thêm câu nữa:

- Đây là bạn văn chương với tôi. Hơn nữa lại là chiến sỹ ở đơn vị cũ…

Chỉ thiếu nước ngất xỉu vì sung sướng. Ông quay đi hồi lâu mà tôi còn ngân nga, râm ran mãi. Nhưng thực lòng, tôi thấy mình không xứng tị ti với sự trân trọng của ông. Tự tin và phổng mũi. Lần đầu tiên trong đời, tôi thấy rằng được trọng thị quá giá trị thực của mình còn khổ hơn là nỗi khổ không được trọng thị.

Viên hạ sỹ lặng lẽ hướng dẫn tôi chỗ tắm, giặt. Quan trọng hơn cả, là tôi được mượn một bộ quân phục mới tinh, vừa đúng cỡ. Thơm sạch như khẩu súng mới chưa bắn lần nào.

Bữa ăn cùng ông lúc ấy đã ngả sang chiều. Bày trên cái bàn quá khổ. Khẩu phần của tôi từ nhà ăn. Cơm bo bo. Rau sắn muối chua xào mỡ hoá học. Mấy miếng thịt lợn thái mỏng như giấy dó. Bát canh khoai nương hầm xương lõng bõng. Lát sau người công vụ mang thêm niêu cơm nếp lạc và hũ mắm tép rói ướp thính lẫn bột củ riềng thơm nưng nức.

Ông đã thay bộ quân phục bằng bộ pijama sáng màu. Trông như ông giáo làng thôi dạy học đã lâu. Ngồi xổm trên ghế, quần quá gối. Ôi, chân của vị đại tá mới gầy gò và lắm sẹo làm sao. Ông nhìn mâm cơm, mời tôi mà như đang độc thoại:

- Đấy, khẩu phần tiểu táo của tôi đấy. Nhưng tôi bị đau dạ dày, nên thường ăn vặt. Gạo nếp, tép thính đều nhờ bà vợ ở quê gửi lên cho… Thôi gắng mà ăn đi, cậu… Xa vợ con bao năm. Không giúp gì được, nay vẫn phải nhờ vợ…

Ông tiếp cho tôi lưng bát sắt cơm nếp, ba con cá thính.

- Đây là thứ nếp hoa vàng, cấy ở đồng làng Thượng Nung giữa những đầm sen. Tép rói, là thứ đặc sản chỉ có ở trong đầm sen, đầm súng. Hũ tép này vợ tôi làm đã ba năm. Lạc cũng vậy, nó được trồng ở những gò cao quanh làng. Lạc rang chín, tách vỏ, cơm nếp nấu cạn thì mới cho lạc vào…

Tôi nhìn sang bát ông, chỏng chơ mấy nhón cơm vê tròn như quả nhót. Và cũng ba con tép thính nhưng đã được bẻ đôi. Nồi cơm nếp hình như chỉ còn lớp cháy.

Sực nhớ, ông hỏi tôi về trại viết, về tập thơ sẽ xuất bản này của Trung tâm huấn luyện chiến sĩ mới. Và, tất nhiên hỏi tôi về những cái đã viết và cả dự định sáng tác. Tôi không nhớ mình đã trả lời ông ra sao.

Ông chăm chú nghe tôi. Nhưng tôi vẫn cảm thấy mình chỉ là cái cớ thoả đáng trong buổi chiều biên giới phấp phỏng tiếng nổ mồ côi vọng vang qua từng sóng núi, để ông giãi bày với chính ông thì phải.

- Ít hơn cậu hai tuổi, tôi đã rời làng theo Cách mạng. Bập bõm biết chữ, đứng nơi đầu làng trước mặt là đầm sen, nhìn đường chân trời, tôi băn khoăn tự hỏi, đằng sau đường chân trời là cái gì nhỉ? Tôi từ lính trơn trở thành Tư lệnh sư đoàn khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ. Giờ lại chiến cuộc giữa đất này. Văn, thơ là chỗ tôi được bộc lộ mình trọn vẹn những điều không thể nói nơi hội nghị.

Ánh mắt nâu trong của ông nhìn ra bộn bề núi vây quanh. Bỏ lửng bữa ăn, ông đứng dậy mở tủ tài liệu ôm ra chồng bản thảo, đánh máy, viết tay. Chữ ông sắc nét, thoáng rộng. Tập bản thảo tự truyện Đường tới chân trời và một số bài thơ lẻ. Về sau những Tim tôi thắp lửa, Dặm dài trên đất nước Triệu Voi, Trận đánh cuối cùng đã hấp dẫn tôi cũng như bao chiến sĩ khác. Dù thơ hay văn, thì người đọc đều bị cuốn hút bởi sự chân thành, sinh động của Tướng Nguyễn Chuông nhiều trải nghiệm đời binh nghiệp.

Trong xấp bản thảo, tôi thấy hai cái tên cây đa cây đề trong làng báo làng văn quân đội trên phong bì thư người gửi là Nguyễn Phúc Ấm và Nguyễn Đức Mậu. Cười rạng, ông như người nông nhìn cánh đồng bời bời mùa vụ, xởi lởi nói:

- Tất cả đấy. Tuỳ cậu muốn chọn bao nhiêu bài mang về cũng được…

Mấy năm sau tôi ra quân xin chuyển ngành về Sở Văn hoá Phú Thọ. Họa sỹ Ngô Quang Nam - Giám đốc Sở đồng ý tiếp nhận, nhưng ngặt cơ quan đang thừa 20 biên chế. Và họa sỹ nói luôn, nếu kiếm được thư tay của Tướng Nguyễn Chuông giới thiệu tôi với tỉnh thì tốt nhất. Thế là tôi lại tìm đến ông, lúc bấy giờ đang là Phó Tư lệnh Quân khu II, phụ trách xây dựng kinh tế. Lúc viết thư giới thiệu tôi với Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ Vĩnh Phú, ông lẩm bẩm:

- Gay. Bây giờ thời bình, thanh niên vào quân đội phục vụ mươi năm ra là trắng tay không nghề ngỗng. Chúng ta không nghĩ cách đào tạo lại thì nguy quá. Có phải ai vào lính cũng làm thơ viết văn như cậu được đâu mà tôi viết thư tay giới thiệu…

Chắc muốn tôi thuận việc, Tướng Nguyễn Chuông đã giới thiệu tôi như là một tài năng hiếm hoi!!! Nếu mà Vĩnh Phú không nhận thì e rằng sẽ thiệt thòi cho phong trào!!! Dĩ nhiên lúc đó tôi thấy hơi ngượng. Nhưng đến bây giờ ngẫm lại, tôi vẫn không khỏi xấu hổ vì cái tài của mình được ông nhân lên nhiều quá…

Trong căn hộ ông ở cuối đời ở Hà Nội, ông lập một bàn thờ lính có gắn hình con chim đại bàng tung rộng cánh, dưới bàn thờ để cuốn sổ ghi tên các đồng đội đã hy sinh mà vẫn chưa tìm thấy mộ. Ông bảo "Con đại bàng sẽ chở linh hồn họ luôn về cùng ở bên tôi". Có lẽ ông là vị tướng Việt Nam hiện đại duy nhất thờ lính. Ông thắp nhang, cầu khấn cho họ mỗi khi xuân, mỗi dịp đất nước lễ trọng.

Ngay khi còn khoẻ, ông đã về quê làm đơn xin được cắm đất mộ phần. Ông nói với các con:

- Đất nước Việt thì tấc đất nào cũng là nước Việt. Nhưng Thượng Nung là nơi bố đã ra đi thì cũng là nơi bố phải trở về. Bố phải trở về nguồn cội, để lại được sống tiếp những gì mình chưa sống trọn với quê hương.

Ý nguyện của tướng Nguyễn Chuông là được an nghỉ tại Thượng Nung cùng bàn thờ lính. Bàn thờ lính ấy, nay đã được con trai ông mang về đặt tại ngôi nhà cũ, theo di huấn.

Bữa cơm trưa thời bình với Tướng Nguyễn Chuông ấy, tôi bỗng nhận ra trong ông đạn vẫn nổ, bom vẫn rơi chưa dứt trong những giấc ngủ và cả những ban mai với nỗi ám ảnh trách nhiệm lương tâm của người làm tướng. Tôi không nghi ngờ gánh nặng đó chưa một ngày buột khỏi vầng trán ưu tư, ánh mắt mang nhiều câu hỏi và đôi vai đang còn trĩu xuống mâm cơm của ông.

Lúc từ biệt, tôi chưa chịp chào, thì ông đã nói:

-Tôi phải trốn bệnh viện về nhà mươi ngày. Muốn quên đi cái đau đớn của con người mà không được. Chiến tranh thì sống chết. Hoà bình thì bạo bệnh nan y. Gạo tiền…

Nhìn ông rưng rưng, tôi những muốn một lần nữa nép dưới mái đầu bạc của ông. Muốn vòi ông một cơ số quân trang lính mới. Tại sao tôi vẫn có cảm giác ấy nhỉ. Có lẽ Tướng Nguyễn Chuông là một trong những người chỉ đem cho những thứ mình có. Người không biết nhận. Tôi thầm với mình: Nếu như những vết thương và cả hạnh phúc của ông hiện có mà đem cho được và khiến người khác bình an thì chắc ông cũng chẳng chối từ.

Rồi như nổi hứng, Tướng Nguyễn Chuông chỉ vào vườn cây nhà mình, khẽ nói:

- Các cậu biết không. Vườn nhà tôi trồng đủ loại hỗn tạp. Tại sao các cậu hôm nay được mổ gà không? Tôi có một quy định, nếu có khách đến thấy tôi giới thiệu với khách thứ cây trồng gì thì người nhà sẽ tiếp theo phẩm cấp của cây trồng ấy. Hôm nay tôi giới thiệu cây cam mà.

Bỗng tôi lại không biết mình là ai

- Dạ thật may là hôm nay… thủ trưởng không giới thiệu nhầm vào cây ớt…

Bóng nắng đã nghiêng nghiêng, Tướng Nguyễn Chuông bật cười hồn hậu. Ông giơ cái quạt lá cọ dư dứ về phía chúng tôi. Nhưng tay kia ông còn kịp ngoắc vào tay lái chiếc xe máy một túi những trái roi chín hồng.

- Các cậu mang về cho lũ trẻ ở nhà.

Ông lòng khòng đứng như cái dấu chấm than trong chiều nhiều gió. Và bây giờ mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ấy, hình ảnh ông vẫn còn gieo vào tôi bao nhiêu là câu hỏi không hồi đáp

Nguyễn Tham Thiện Kế

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.