Từ Hội nghị Yalta đến cuộc khủng hoảng đầu tiên của Chiến tranh Lạnh: 15 tháng không vận kết thúc

Hạ cánh xuống Tempelhof, từng chiếc máy bay sẽ được các xe jeep sơn trên thân dòng chữ "Follow-me" (Hãy theo tôi) nghênh đón cùng chiếc thang để phi hành đoàn trèo xuống. Đặt chân xuống đường băng, một sĩ quan tác chiến tiến đến đưa cho họ giấy phép quay về và bản chỉ thị thời tiết.

Tiếp đó là sự xuất hiện của chiếc xe jeep thuộc Hội Chữ thập đỏ Đức mà ngồi sau vô lăng thường là những cô gái trẻ trung, hoạt bát đem đến cho các phi công những cốc cà phê nóng và gói bánh rán trong lúc một nhóm bốc dỡ xúm vào dỡ hàng từ máy bay xuống xe tải.

Thời tiết mùa đông gây thêm khó khăn cho hoạt động không vận vì băng giá khiến cho công việc bảo trì trên đường băng ít được thực hiện hơn. Theo chỉ thị của Tướng William Tunner, người chỉ huy chiến dịch Vittles, mọi hoạt động nghỉ ngơi thư giãn của phi công trong thời gian này là một thứ xa xỉ, vì thế không thành viên phi hành đoàn nào rời khỏi máy bay khi nó đang ở đường băng tại Đức.

William Tunner muốn thời gian quay vòng giữa 2 chuyến bay chỉ khoảng 30 phút. Với quãng thời gian ngắn như vậy, các phi công chỉ còn cách ở lại bên máy bay, tất cả các dịch vụ sẽ được đem ra tận máy bay. Ngoài ra, những nhóm công nhân bốc dỡ hiểu rõ tầm quan trọng của việc máy bay thực hiện được càng nhiều phi vụ càng tốt, nên họ cũng cố gắng không để lãng phí phút nào.

Người dân và trẻ con đứng nhìn máy bay chuyển hàng hóa và thực phẩm đến Berlin.
Người dân và trẻ con đứng nhìn máy bay chuyển hàng hóa và thực phẩm đến Berlin.

Trong chiến dịch không vận Vittles, tất cả mọi loại máy bay vận tải đều được đem vào sử dụng, kể cả loại máy bay Junker Ju 52 hoặc Ju 3M của Đức Quốc xã bỏ lại, tuy nhiên, thành phần chính vẫn là những máy bay cánh quạt C-47 Dakota và C-54 Skymaster. Loại C-54 Skymaster còn được người dân Berlin gọi là "Rosinenbomber" (máy bay ném nho khô), hiểu theo nghĩa bóng là máy bay mang theo các thứ nhu yếu phẩm, bánh kẹo...

Để tăng cường nhân lực và không mất quá nhiều thời gian đào tạo, William Tunner cho phép tái tuyển mộ những người thợ máy, công nhân bảo trì của Luftwaffe (Không quân Đức) làm việc ở Templehof. Ban đầu, vấn đề tái sử dụng những thành phần từng phục vụ trong hàng ngũ phía bại trận gặp không ít trở ngại vì không phải ai cũng sẵn sàng đầu quân cho người thắng trận.

Lúc đó, Hans Detlev von Rohden, một sĩ quan cao cấp từng phục vụ trong Luftwaffe, là người biết tiếng Anh, nên đã dịch các bản hướng dẫn kỹ thuật ra tiếng Đức rồi tìm cách liên lạc với những thợ máy, kỹ thuật viên... Đến lúc ấy mới xuất hiện những kỹ thuật viên đầu tiên và đến cuối chiến dịch, số kỹ thuật viên người Đức còn nhiều hơn những đồng nghiệp Mỹ.

Những chiếc C-54 sau khi bay được 200 giờ sẽ bay tới kho của USAF ở Burtonwood, Anh, để kiểm tra. Sau 4 lần kiểm tra, nó sẽ quay về Mỹ, trải qua hơn 40 ngày đại tu ở một trong 4 xưởng đại tu dân sự để rồi tiếp tục quay về Đức.

Khẩu phần ăn cho người dân và binh sĩ các nước đóng trong khu vực Tây Berlin được tăng lên từng ngày. Những tảng than đá từ hầm mỏ ở Đức được gói trong những bao bố và chuyển lên máy bay. Mùa đông năm 1948-1949 là mùa lạnh kỷ lục ở châu Âu, nhưng than đá chỉ dùng để chạy nhà máy phát điện trong khi phần lớn người dân Tây Berlin co ro sưởi ấm bên gian bếp nhỏ mỗi khi họ nổi lửa nấu khẩu phần ăn đạm bạc.

Gail Halvorsen tại sân bay Tempelhof, Berlin năm 1948.
Gail Halvorsen tại sân bay Tempelhof, Berlin năm 1948.

Dù gì đi nữa thì người dân Berlin vẫn có than dùng cho mùa đông, bọn trẻ có sữa và bánh kẹo, người đau ốm được chu cấp đủ thuốc men. Cầu không vận hoạt động cả 7 ngày trong tuần, ngày đêm không nghỉ với đội ngũ máy bay của USAF, RAF cùng với khoảng 40 máy bay tư nhân thuê bao của Anh, trừ một khoảng thời gian tạm dừng chỉ 15 tiếng đồng hồ vào tháng 11-1948 khi xuất hiện sương mù dày đặc.

Mục tiêu ban đầu mà chiến dịch "Vittles" đặt ra là một ngày cần chuyên chở trung bình 4.500 tấn hàng và ngưỡng này nhanh chóng bị vượt qua; đến tháng 10-1948, mỗi ngày cầu không vận đạt mức 5.620 tấn. Trong một thời gian ngắn, cầu không vận lớn mạnh đến mức các máy bay hạ và cất cánh cứ  3 phút một chuyến tại Tempelhof, Gatow (khu vực của Anh) và Tegel do quân đội Pháp trấn đóng. Giữa tháng 4-1949, một kỷ lục cho toàn chiến dịch được xác lập: 1.389 chuyến bay chở theo 13.000 tấn hàng trong cái ngày được gọi là "Cuộc diễu hành Lễ phục sinh", các máy bay đã hạ cánh xuống các sân bay theo tần suất mỗi phút một chuyến.

Do Tây Berlin bị cắt nguồn điện, than đá chiếm hơn hai phần ba số hàng hóa trong từng khoang máy bay. Các chuyến bay theo chiều ngược lại thì vận chuyển hàng xuất khẩu công nghiệp của Tây Berlin tới một số nước phương Tây. Đây là cuộc không vận lớn nhất trong lịch sử hàng không: Từ ngày 26-6-1948 đến ngày 30-9-1949, đã có 278.288 chuyến bay, chuyên chở 2.325.000 tấn hàng tiếp tế; trong đó 1,44 triệu tấn than đá, 490.000 tấn thực phẩm và 160.000 tấn vật liệu xây dựng để phát triển sân bay cũng như để xây nhà máy điện mới Ruhleben đã được chuyên chở.

Điều đáng nói là chiến dịch cầu không vận Vittles đã thực hiện năng lực vận tải lớn hơn nhiều so với tuyến đường sắt trước đây và cho đến nay không phải ai cũng có thể lý giải thấu đáo câu hỏi là tại sao Liên Xô đã không thực hiện nỗ lực lớn nào nhằm phá vỡ cuộc không vận ngoài các hoạt động quấy rối nhỏ như thả bom giả, thả khí cầu bốc cháy, bắn đạn lên gần sát máy bay hay gây nhiễu sóng tín hiệu.

Trung úy Gail Halvorsen, người bang Utah, Mỹ, lái chiếc máy bay vận tải C-54 từ một căn cứ quân sự trên Thái Bình Dương  đến Berlin khoảng 2 tuần sau khi cầu không vận được thiết lập và đảm nhận đường bay từ sân bay quân sự Mỹ ở Rhein-Main đến Tempelhof. Mỗi khi máy bay hạ và cất cánh từ Tempelhof, Gail Halvorsen thường gặp những người Đức đến ngắm nghía chiếc máy bay của Không lực Hoa Kỳ.

Có lần Gail Halvorsen đã gặp một nhóm khoảng 30 trẻ em, những đứa bé chẳng xin xỏ gì nhưng Halvorsen muốn cho đám trẻ một chút gì đó. Thế là anh lấy từ trong túi 2 phong kẹo cao su, nhìn bọn trẻ chia nhau kẹo, mỗi đứa bẻ lấy một mẩu nhỏ mà không đủ chia cho nhau nên vài đứa sau chỉ còn có thể hít mùi thơm vương trên mẩu giấy bạc gói kẹo.

Halvorsen và Thủ Tướng Đức Merkel tại Tempelhof năm 2008.
Halvorsen và Thủ Tướng Đức Merkel tại Tempelhof năm 2008.

Nhìn cảnh ấy, Gail Halvorsen nảy ra một sáng kiến. Trở về căn cứ quân sự, Gail Halvorsen đã xin tất cả các bạn phi công đồng hành những khẩu phần kẹo và gom góp những mẩu khăn tay cùng dây nhợ, Gail làm thành những chiếc dù nhỏ cột vào những thỏi kẹo. Trong các chuyến bay tiếp theo, Gail Halvorsen đã nhờ cơ khí trưởng thả những chiếc dù kẹo qua lỗ thả hỏa châu và cửa thoát thân cho phi công đằng sau khoang lái.

Một vài ngày sau đó, khi Gail Halvorsen đáp xuống sân bay Rhein-Main trong lượt về, một sĩ quan đã đứng chờ Gail để báo việc anh phải đến văn phòng Đại tá Phi đoàn trưởng James Haun để tường trình.

Vừa giáp mặt Gail, Đại tá James Haun sẵng giọng hỏi: "Này Halvorsen, anh đang làm cái quái gì thế?" rồi lục trong ngăn kéo bàn làm việc, lôi ra một tờ báo đăng bài báo ngay trang đầu với dòng tít lớn "Một phi công Mỹ thả dù kẹo"."Thưa đại tá, chính tôi là tác giả chuyện này"- Halvorsen trả lời - "Vì thế tôi sẽ giải thích những gì xảy ra trong khi tôi đáp xuống Tây Berlin. Bọn trẻ con chẳng vòi vĩnh tôi bất cứ cái gì và cũng chẳng đánh nhau vì mấy mẩu kẹo cao su. Tôi nghĩ rằng bọn trẻ đáng được hưởng thêm kẹo". "Này Trung úy!" - Haun trầm giọng - "ông Tướng đã đọc bài báo này và những ông tướng thì không ưa chuyện bất ngờ. Anh cứ tiếp tục làm nhưng phải cẩn thận".

Từ đấy, những chiếc dù kẹo cứ liên tục được thả từ chiếc máy bay của Gail. Người dân và trẻ con vùng Tây Berlin đặt cho Gail biệt danh  "Chú cánh vẫy" (Uncle Wiggly Wings) do máy bay của Gail khi sắp hạ cánh thường chao nghiêng về 2 phía như cách anh lắc lư 2 cánh vẫy gọi các trẻ em bên dưới biết những túi chứa bánh kẹo đang trên đường đến và chúng hãy chuẩn bị đón nhận cơn mưa dù kẹo. Trước một chuyến đi, Gail Halvorsen đã được một viên chức thuộc Tổ hợp Bánh kẹo Mỹ ASSN mời một bữa ăn tối để ngỏ ý rằng, anh sẽ được tiếp tay. Quả vậy, 2 xe vận tải đầy ắp bánh kẹo được chở đến Frankfurt-am-Main không lâu sau đó.

Đài tưởng niệm Cầu không vận Berlin ở Tempelhof hướng lên bầu trời với 3 nhánh biểu tượng cho 3 hành lang bay.
Đài tưởng niệm Cầu không vận Berlin ở Tempelhof hướng lên bầu trời với 3 nhánh biểu tượng cho 3 hành lang bay.

Thông tin về "phi vụ" của Gail Hanvorsen lan đi nhanh chóng và nhiều người dân Mỹ, như cư dân ở Chicopee, tiểu bang Massachusetts, đã tụ họp các em học sinh và người lớn lập một dây chuyền sản xuất những chiếc dù kẹo. Gail Hanvorsen hóm hỉnh nói: "Không lực Hoa Kỳ đã đặt tên “Operation Vittles” cho chiến dịch cầu không vận thì tôi đặt tên cho chiến dịch thả dù kẹo này là Operation Little Vittles" (Chiến dịch Vittles nhỏ). Nếu so sánh về quy mô, thì Little Vittles chẳng là gì so với Vittles, nhưng phi vụ kỳ thú cùng câu chuyện thấm đẫm tình người này vẫn luôn được mọi người ghi nhớ.

Ngày 9-5-1949, Liên Xô tuyên bố vòng phong tỏa sẽ bị dỡ bỏ sau nửa đêm ngày 12-5. Các đoàn xe đầu tiên của Anh và Mỹ đã vượt qua 110 dặm trên vùng lãnh thổ phía đông do Liên Xô kiểm soát để tới Tây Berlin.

Vào ngày 23-5, Cộng hòa Liên bang Đức đã được chính thức thành lập. Ngày 7-10 cùng năm, nước Cộng hòa Dân chủ Đức ra đời. Cuộc Không vận Berlin vẫn tiếp tục cho đến ngày 30-9 nhằm đảm bảo lượng hàng dự trữ đủ dùng trong một năm. Sân bay Tempelhof, biểu tượng chính của chiến dịch Cầu không vận cách đây gần 70 năm được Bộ Giao thông - Vận tải Đức khởi công xây dựng từ ngày 8-10-1923, là sân bay quốc tế đầu tiên có hệ thống xe điện ngầm dưới mặt đất vào năm 1927. Trạm xe điện ngầm bên cạnh sân bay ngày nay được đặt tên là "Platz der Luftbrücke" sau chiến dịch Cầu không vận.

Trước Thế chiến thứ hai, Tempelhof được xem là một trong 3 sân bay lớn của châu Âu - bên cạnh sân bay Croydon của London (Anh) và Le Bourget của Paris (Pháp). Sân bay có một hành lang khổng lồ với vòm nhà thiết kế như kiểu khoang lái máy bay, có dãy nhà thiết kế được xếp hạng một trong 20 tòa nhà lớn trên thế giới.

Thời kỳ trọng điểm của chiến dịch Cầu không vận, Tempelhof là sân bay bận rộn và náo nhiệt nhất trong số 3 sân bay thuộc các nước đồng minh phương Tây và thời hoàng kim của Tempelhof là vào các thập niên 50, 60 cho đến cuối thập niên 70 với những cửa hàng miễn thuế lớn nhất ở Âu châu.

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, sân bay vẫn hoạt động nhưng dần mất đi vị thế chính yếu do sự cạnh tranh của những sân bay mới khác hình thành quanh Berlin và trên toàn nước Đức nhằm đáp ứng với sự tăng trưởng của mật độ lưu thông hàng không thời hiện đại.

Ở một góc của sân bay, người ta dựng một đài tưởng niệm chiến dịch Cầu không vận Berlin có hình dạng cong vút lên bầu trời cùng chi tiết cách điệu 3 hành lang bay được sử dụng trong suốt chiến dịch, dưới chân đài khắc tên các phi công tử nạn trong khi thi hành nhiệm vụ. Gần đài tưởng niệm là nhà trưng bày những hiện vật, hình ảnh liên quan đến chiến dịch năm xưa. Sau lễ kỷ niệm 60 năm Cầu không vận Berlin, Tempelhof đóng cửa và ngừng hoạt động từ ngày 30-10-2008.

Quang Hiếu (tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.