Từ Hội nghị Pa-ri đến trận địa tên lửa Chèm

Sau khi ký tắt bản Hiệp định Pa-ri về Việt Nam cùng với Tiến sĩ Hen-ri Kít-xing-giơ, cố vấn đặc biệt của Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Ri-sớc Ních-xơn, cố vấn phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ lập tức trở về Hà Nội. Vừa đặt chân xuống sân bay Gia Lâm, đồng chí Lê Đức Thọ đã đề nghị cho ông tới thăm trận địa tên lửa đánh thắng máy bay chiến lược B52 của đế quốc Mỹ, cùng với quân và dân Hà Nội làm nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trong 12 ngày đêm tháng Chạp. Đó là trận địa Tiểu đoàn 77 ở gần bến phà Chèm. Đây là tiểu đoàn bắn rơi chiếc máy bay chiến lược B52 đầu tiên của Hà Nội đêm 18/12 và cũng là một trong những đơn vị lập công xuất sắc nhất, bắn rơi nhiều máy bay B52 nhất trong chiến dịch 12 ngày đêm.

Trời mùa đông lạnh giá, đùng đục màn sương khói, suốt từ sáng đến chiều không hề có một tia nắng nào. Những quả đạn tên lửa cắm kín lá ngụy trang trên công sự, nằm im lìm như những con hổ phục. Tự nhiên ông chợt nhớ tới ngôi mộ của Thái sư Trần Thủ Độ. Bên trên ngôi mộ không xây cất cầu kỳ, diêm dúa như các lăng tẩm đời Nguyễn mà chỉ duy nhất có một con hổ đá. Chẳng hiểu con hổ ấy được tạc theo di chúc của Thái sư Trần Thủ Độ hay chỉ là ý thích của người thợ đá và con cháu của ngài. Đến nay chưa thấy sử sách nào ghi lại. Chỉ biết rằng con hổ ấy nằm soải người rất thoải mái, đôi mắt lim dim như ngủ nhưng cái đuôi duỗi ra thì cứ như nó đang động đậy. Nó ngủ đấy nhưng cũng lại cảnh giác cao độ đấy. Chỉ cần kẻ thù có một động tĩnh nhỏ là nó lập tức quẫy đuôi vùng dậy và lao tới đối phương. Và cho tới lúc này, lúc đặt chân lên trận địa tên lửa, ông mới thực sự cảm thấy nhẹ nhõm là đã hoàn thành sứ mệnh cao cả mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó. Nhiều lúc ông cũng tự hỏi không hiểu sao có những phiên họp ông lại có thể ngồi đấu với Kít-xing-giơ liền một mạch 17-18 giờ đồng hồ. Tính theo tuổi ta, tuổi âm lịch năm ấy ông vừa tròn 60 tuổi. Còn Kít-xing-giơ mới ở độ tuổi ngoại bốn mươi. Một con người lúc nào cũng “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”.

Kít-xing-giơ có cái cổ to và ngắn, mái tóc quăn đen nhánh. So với người châu Âu, ông ta không lấy gì làm cao lớn, nếu không gọi là hơi lùn. Báo chí phương Tây lúc ấy vẫn bảo ông ta là con người của dao dĩa và gái. Ông ta ăn một bữa có thể hết một chú cừu tơ quay ròn và có thể đi với gái nhảy hết đêm này sang đêm khác. Dường như càng đi với gái nhảy thì đầu ông ta càng minh mẫn sáng láng hơn. Ông ta đã ỷ vào sức khỏe để đánh những keo vật thật dài khiến sức lực Lê Đức Thọ ông cạn kiệt, đầu óc ông lú lẫn, dễ thỏa thuận những điều khoản có lợi cho phía Mỹ. Kít-xing-giơ thường bắt đầu cuộc họp vào hai giờ rưỡi sáng (giờ Hà Nội). Đó là lúc tuổi già của đồng chí Lê Đức Thọ gặp nhiều khó khăn. Nhưng ông ta có cái tật hay đi đái vặt. Thành ra những lúc ông ta rời bàn họp là lúc đồng chí Lê Đức Thọ được nghỉ ngơi dăm ba phút và khi ông cần điều gì thì “quân sư” có thể cung cấp kịp thời cho ông. Nhưng đến bây giờ, có thể nói, ông đã chiến thắng, ông đã không để sơ hở một điều khoản nào. Và ông đã thực hiện được lời dặn của anh Ba: “Bất kỳ ở đâu cũng không được quên rằng mình là người Việt Nam, dân tộc Việt Nam”.

Hãy trở lại Tiến sĩ Hen-ri Kít-xing-giơ một chút. Khi còn là giáo sư giảng dạy bộ môn lịch sử thế giới ở Trường Đại học Ha-vớt, ông ta đã ôm giấc mộng chính khách. Sau nhiều năm nghiên cứu về sự phân chia quyền lực của thế giới hiện đại, ông ta đã viết một bản luận thuyết rất nổi tiếng. Ông ta đem bản luận thuyết của mình trình lên Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hồi ấy là Giôn Ken-nơ-đi. Sau nửa tháng hồi hộp, mong đợi sẽ được Ken-nơ-đi gọi đến ngợi khen và tuyển dụng vào Nhà Trắng, nhưng thật không may cho học thuyết của ông ta, Tiến sĩ Kít-xing-giơ đã vấp vào cái đầu quá ư là thông minh và quái kiệt của Ken-nơ-đi. Tổng thống Mỹ mời ông ta đến Nhà Trắng, trao trả bản luận thuyết và nói bằng một giọng lạnh lùng, khúc triết:

- Cảm ơn ngài đã cho tôi đọc học thuyết của ngài. Nhưng thật tiếc, những điều ngài viết trong đó, tôi đã nghĩ đến cả rồi. Có nhiều điểm tôi còn nghĩ sâu hơn ngài kia, ví như…

Kít-xing-giơ chán ngán, thất vọng. Ông ta nghĩ thế là chấm dứt! Ông ta chẳng còn hy vọng tiến thân vào Nhà Trắng nữa. Nhưng chỉ mấy tháng sau thì Ken-nơ-đi bị ám sát. Lin-đơn Giôn-xơn lên làm Tổng thống Mỹ. Bạn bè khuyên ông ta lại đem bản học thuyết ấy nộp cho Tổng thống Lin-đơn Giôn-xơn xem sao. Ông ta không nghe. Trong thâm tâm, Kít-xing-giơ vốn coi thường Giôn-xơn là một người háo danh, ngu xuẩn và liều lĩnh.

Từ Hội nghị Pa-ri đến trận địa tên lửa Chèm ảnh 1
Các đồng chí: Bộ trưởng Xuân Thủy, Cố vấn Lê Đức Thọ gặp gỡ phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tại Hội nghị Pa-ri năm 1973. Ảnh: T.L.

Sau Tết Mậu Thân 1968, đội quân xâm lược Mỹ bị thất bại nặng nề ở Việt Nam. Tổng thống Giôn-xơn buộc phải tuyên bố không ra tranh cử chức tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2. Ri-sớc Ních-xơn là một ứng cử viên tổng thống Mỹ sáng giá của đảng Cộng hòa. Ở một quán bar nọ, bạn bè đã hỏi Kít-xing-giơ về Ních-xơn, xem ông ta đánh giá nhân vật này như thế nào? Chẳng phải suy nghĩ, ông ta bảo:

- Đấy là một người ngu xuẩn và tàn bạo.

- Nếu ông ta đắc cử tổng thống thì thế nào?

- Thì càng ngu xuẩn và càng tàn bạo. Có thể sẽ ngu xuẩn và tàn bạo hết chỗ nói.

Không ngờ mấy câu nói của Kít-xing-giơ ở quán bar này đã bị bạn bè để lộ và báo chí phương Tây được dịp bán báo chạy.

Và Ri-sớc Ních-xơn đã đắc cử Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Vài tháng sau khi đắc cử Tổng thống, Ri-sớc Ních-xơn chợt nhớ tới bản luận thuyết của Tiến sĩ Hen-ri Kít-xing-giơ hồi nào đã được một số giáo sư sử học Trường Đại học Ha-vớt đánh giá rất cao. Còn Tổng thống Ken-nơ-đi thì lại bảo cái học thuyết ấy làm cho ông ta mỏi mệt. Ních-xơn rất muốn được đọc bản luận thuyết ấy. Ông ta mời Kít-xing-giơ đến Nhà Trắng.

Kít-xing-giơ nhận được điện sợ run cầm cập. Ông ta nghĩ, Ních-xơn ngu xuẩn và tàn bạo sẽ trả thù ông ta về những lời ông ta nhận xét Ních-xơn hồi nào. Ông ta mời bạn bè, chỉ mời những người đã trực tiếp nghe ông ta nói đến đúng cái bàn của quán bar mà ông ta đã có lời nhận xét chẳng hay ho, tốt đẹp gì về Ních-xơn. Ông ta đãi bạn một bữa rượu uýt-xki cho kỳ đến say mềm người ra. Ông ta bảo đây là bữa rượu vĩnh biệt, bữa rượu cuối cùng. Rằng thế nào Ních-xơn cũng trả thù.

Ních-xơn đứng ở cửa phòng khách đón Kít-xing-giơ. Ních-xơn nói luôn:

- Tôi muốn mời ngài cộng tác với tôi và tôi muốn được xem bản luận thuyết của ngài đã đệ trình Tổng thống Ken-nơ-đi.

Tiến sĩ Kít-xing-giơ bàng hoàng, không còn tin ở tai mình. Nhưng đó là sự thật. Ông ta xin được suy nghĩ trong nửa tháng. Nửa tháng chờ đợi là nửa tháng ông ta hoang mang, lo sợ đến tột độ. Ông ta bỏ giờ dạy nằm bẹp dí ở nhà. Không hiểu Ních-xơn tàn bạo và ngu xuẩn nói thật hay bông đùa trước cái chết của ông ta.

Đúng nửa tháng, theo lời hẹn, Kít-xing-giơ đến Nhà Trắng nộp bản luận thuyết về thế giới hiện đại cho Ních-xơn và nói:

- Tôi xin được cộng tác với ngài.

Đọc xong bản luận thuyết của Kít-xing-giơ, Ních-xơn mừng rơn. Ông ta nôn nóng gọi điện cho Kít-xing-giơ bảo:

- Tôi đã đọc xong bản luận thuyết của ngài. Tôi muốn mời ngài làm cố vấn an ninh cho tôi. Tôi nghĩ, ở cương vị này, ngài tha hồ có điều kiện thực hiện học thuyết của mình. Ngài đồng ý nhận lời chứ.

Kít-xing-giơ sung sướng đến bàng hoàng. Và ông ta đã bước chân vào Nhà Trắng như vậy đấy. Ông ta quả thực là một con bài đắc lực của Ních-xơn.

Cố vấn Lê Đức Thọ nghe nói, nhiều chính khách trên thế giới sợ cái ánh mắt sắc sảo, lạnh lùng đằng sau cặp kính cận dày cộp của Kít-xing-giơ, tới mức không dám nhìn thẳng vào mặt ông ta. Tiến sĩ Kít-xing-giơ có tật ngồi trước đối phương thường hay cắn móng ngón tay cái. Ông ta vừa cắn móng tay vừa nghiêng nghiêng mắt thôi miên đối phương để tính toán những nước cờ. Do vậy đối phương chỉ sợ ông ta đọc được những ý nghĩ của mình. Và quả thực có nhiều chính khách đã bị ông ta bắt thóp và dồn tới chân tường, buộc họ phải theo ý đồ của ông ta.

Vậy mà trước ánh mắt thông minh, lì lợm, sắc sảo và lạnh lùng ấy, cố vấn Lê Đức Thọ chưa một lần phải lảng tránh. Đồng chí Lê Đức Thọ chỉ mong ông ta, Tiến sĩ Kít-xing-giơ hiểu được ông, đoán được ý ông, hiểu được con người Việt Nam, càng nhanh càng tốt. Nhưng ông ta vẫn không chịu hiểu cho. Sở dĩ đồng chí Lê Đức Thọ có được một bản lĩnh kiên cường như vậy trước Tiến sĩ Kít-xing-giơ là bởi nhờ có đồng bào và chiến sĩ miền Nam, đồng bào và chiến sĩ ở hậu phương lớn miền Bắc đã càng đánh càng thắng, càng dồn đế quốc Mỹ vào thế bị động lúng túng, tạo điều kiện thuận lợi cho đồng chí trên mặt trận ngoại giao. Có lần, cố vấn Lê Đức Thọ đã nói thẳng với ông ta rằng:

- Ngay từ đầu năm 1965, chính quyền Mỹ leo thang chiến tranh, đổ quân vào chiến trường miền Nam Việt Nam, tăng cường dùng máy bay ném bom phá hoại miền Bắc Việt Nam, đồng chí Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng chúng tôi đã nhận định:

Chính quyền Mỹ không hiểu dân tộc Việt Nam ta. Đó là cái bại thứ nhất của Mỹ.

Chính quyền Mỹ chỉ thấy mình mạnh, chỉ thấy chiến thắng. Đó là cái bại thứ hai của Mỹ.

Chính quyền Mỹ muốn đánh nhanh, thắng nhanh, thì chúng ta (tức chúng tôi) trường kỳ mai phục, đánh lâu dài, căng địch ra khắp các chiến trường mà đánh. Đánh ở núi rừng, đánh ở đồng bằng, đánh ở thành phố và thị xã, đánh vào nơi hiểm nhất của Mỹ. Đó là cái bại thứ ba của Mỹ.

Chính quyền Mỹ cậy có xe tăng, tàu bò, máy bay, cơ động nhanh nhưng không nhanh bằng chúng ta (tức chúng tôi) bám đất, bám dân hoạt động tại chỗ. Đó là cái bại thứ tư của Mỹ.

Chính quyền Mỹ cậy có nhiều bom, lắm đạn thì ta (tức chúng tôi) nắm lấy thắt lưng Mỹ mà đánh. Đó là cái bại thứ năm của Mỹ.

Mỹ vừa ra quân mà ta đã nhìn thấy năm cái bại của Mỹ thì ta (tức chúng tôi) nhất định thắng. Mỹ nhất định thua.

Đấy là chưa kể nhân dân Mỹ (các ông) không ủng hộ cuộc chiến tranh bẩn thỉu, phi nghĩa của chính quyền Mỹ. Nhân dân tiến bộ thế giới cũng không đồng tình ủng hộ Mỹ.

Cố vấn Kít-xing-giơ nghe xong, mỉm cười bảo:

- Để rồi xem. Thực tiễn ở chiến trường Việt Nam sẽ trả lời sự nhận định của ông Bí thư thứ nhất đảng các ngài.

Ngừng một lát, ông ta nói thêm:

- Liệu các ngài có đủ lực để đánh lâu dài với Mỹ không?

Cố vấn Lê Đức Thọ nói:

- Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng tôi đã nói đại ý là dù cuộc chiến tranh kéo dài 5 năm, 10 năm hay lâu hơn nữa chúng tôi cũng đánh. Dù Mỹ có B52, B57 hay B gì đi nữa thì chúng tôi cũng đánh và đã đánh là thắng. Hẳn ngài còn nhớ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của dân tộc chúng tôi chứ? Lực lượng của cuộc khởi nghĩa lúc đó rất nhỏ bé so với hàng chục vạn quân địch. Địch vây ráp mọi phía. Vua tôi phải nhiều phen thoát hiểm, ăn đói mặc rách. Và cuối cùng là Vương Thông tháo chạy, quân Minh cuốn gói, Liễu Thăng bị chém đầu. Tôi mong muốn Chính phủ Mỹ các ngài nên biết điều hơn, nên xuống thang từng nấc để không phải tháo chạy như vậy. Ngài có biết tại sao chúng tôi chiến thắng không? Chúng tôi chiến thắng là bởi vì chúng tôi dám lấy ít đánh nhiều, dám lấy yếu thắng mạnh, dám lấy quân mai phục đánh quân từ xa tới. Chúng tôi lúc nào cũng lấy nhân nghĩa thắng hung tàn.

Cố vấn Kít-xing-giơ nói cứng:

- Xin cảm ơn ngài.

Giờ đây đặt chân lên trận địa tên lửa Tiểu đoàn 77, gặp những người chiến thắng B52, chợt nhớ lại những lời nhận định của anh Ba, cố vấn Lê Đức Thọ vô cùng xúc động. Ông ôm chầm lấy Tiểu đoàn trưởng Đinh Thế Văn, giọng như nghẹn lại:

- Cảm ơn các đồng chí! Cảm ơn các đồng chí! Các đồng chí đánh rất giỏi, bắn rơi được nhiều máy bay chiến lược B52. Các đồng chí đã cho tôi sức mạnh, cho tôi tiếng nói đĩnh đạc, kiên quyết ở Hội nghị Pa-ri. Các đồng chí cho tôi tiếng nói của người chiến thắng!

Ngừng một lát, ông tâm sự:

- Có ba điều khoản tôi phải đấu với Kít-xing-giơ gay go nhất, quyết liệt nhất. Một là: Hoa Kỳ và các nước khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận. Hai là: Mỹ phải rút hết quân đội Mỹ và các phương tiện chiến tranh, phải ngừng viện trợ vũ khí, khí tài cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu – đồng chí Lê Đức Thọ cười vang – Nhưng quân ta thì lại phải ở nguyên tại chỗ. Điều thứ ba là Mỹ phải thả hết tù chính trị. Nhưng nhờ có các đồng chí nên hôm 28/12/1972 vừa rồi tôi trở lại Pa-ri với khí thế của một dân tộc đã làm nên một “Điện Biên Phủ trên không”. Do vậy, Tiến sĩ Kít-xing-giơ dễ dàng chấp nhận những điều khoản còn lại. Do một nguồn tin tình báo của ta, bè lũ Ních-xơn đem máy bay B52 đánh phá Hà Nội, Hải Phòng… để hòng đè bẹp ý chí một dân tộc và cũng để giết tôi, bởi tôi vừa đặt chân xuống sân bay Gia Lâm. Nhưng phía Mỹ đã lầm. Họ có thể giết tôi, Lê Đức Thọ. Nhưng dân tộc thì lại có Lê Đức Thọ phảy, kết tinh cho tinh thần dân tộc, có điều họ cũng gây khó khăn, gây gián đoạn cho Hội nghị Pa-ri. Họ muốn đảo ngược thế cờ, quyết thảo luận, sửa lại những điều khoản họ đã buộc phải chấp nhận. Tôi biết Kít-xing-giơ căm thù tôi, bởi tôi đã đại diện cho dân tộc, cho Đảng ta buộc ông ta chấp nhận thất bại.

Ông ngừng lời, ôm hôn sĩ quan điều khiển Đức và các trắc thủ Hà Nội. Ông luôn nói:

- Cảm ơn các đồng chí! Cảm ơn các đồng chí! Các đồng chí đã cho tôi sức mạnh. Bản Hiệp định Pa-ri là thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Đây là thắng lợi của tinh thần độc lập, tự chủ. Kít-xing-giơ buộc phải thú nhận với tôi rằng sau nhiều năm chạy ngược chạy xuôi từ nước này tới nước khác, ông ta mới tìm thấy chiếc chìa khóa hòa bình của Việt Nam là ở Việt Nam, ở Hà Nội. Tôi xin cảm ơn các đồng chí! Cảm ơn các đồng chí!

D.D.N.

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.