Mới vì gần đây nhất, ngày 31/3/2011, nước ta đã chính thức nộp hồ sơ xin xét di sản văn hoá thế giới cho Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương mà đỉnh cao của nó là ngày Giỗ Tổ. Để chuẩn bị cho dịp lễ hội hàng năm, Nhà nước đã chi gần trăm tỷ đồng tu bổ, tôn tạo, hoạch định vùng di tích và nhiều tỷ đồng để tìm kiếm, phát hiện, nghiên cứu những căn cứ vật chất và phi vật chất về di tích.
Có thể nói, sau gần nửa thế kỷ nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương, cái được lớn nhất là chúng ta đã khẳng định được thời Hùng Vương độc lập, tự chủ của người Việt là có thật; văn hoá Hùng Vương là văn hoá bản địa. Người Việt có cội nguồn, có Nhà nước của mình trên dải đất này từ buổi bình minh của lịch sử. Đó là niềm tự hào to lớn cho mọi người Việt yêu nước, dù bỏ ra bao nhiêu tiền, bao nhiêu công sức để có được niềm tự hào này cũng là nhỏ.
Có được niềm tự hào đó là công lớn của Nhà nước VNDCCH, nay là Nhà nước CHXHCN Việt
Nhưng như thế không phải đã hết việc để làm. Những gì có được là rất lớn nhưng cũng mới chỉ là những bước ban đầu của một hành trình lâu dài và gian khổ. Rất nhiều những câu hỏi lớn, thậm chí là rất quan trọng về thời kỳ Hùng Vương chưa được giải đáp thấu đáo cả về lịch sử, chính trị, kinh tế, dân tộc, văn hoá. Chỉ tính riêng về nhân chủng học thôi, dân cư Việt thời kỳ Hùng Vương nhân dạng ra sao?
Về văn hoá, cư dân Việt thời kỳ Hùng Vương ăn, ở, mặc, đi lại thế nào; trang phục của họ; phong tục tập quán của họ; họ có chữ viết không cũng còn là vấn đề bỏ ngỏ. Mới đây, một tờ báo đăng loạt bài khẳng định lịch sử và văn hoá Việt phát triển, thậm chí nhiều mặt trước cả văn hoá Hán. Tất nhiên, những giả thiết tác giả đưa ra còn cần nhiều chứng cứ khoa học bảo đảm nhưng phải thừa nhận tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc rất cao ở họ cũng như nhu cầu tìm hiểu về cội nguồn là một nhu cầu lớn hiện nay. Chim có tổ, người có tông, tổ tổ, tông tông, tông tổ cũ là tâm lý phổ biến không chỉ của người Việt. Tâm lý ấy đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của chúng ta, nhất là trong bối cảnh nhiều người vẫn muốn đi ngược lại sự thật lịch sử.
Nói chúng ta vì không chỉ các sử gia, các nhà khoa học mà ngay các nghệ sĩ cũng đòi hỏi không ngừng những phát hiện, kết luận về thời kỳ này và cũng cần đóng góp sức mình vào việc nghiên cứu thời kỳ này. Chẳng hạn, cho đến nay chưa có một tác phẩm văn học - nghệ thuật nào mô tả trực diện về thời kỳ Hùng Vương. Đúng là các nhà văn và văn nghệ sĩ nói chung có thiếu sót.
Ngay một nhà văn nước ngoài còn viết được hàng trăm trang tiểu thuyết về Nguyễn Trãi, huống chi là? Nhưng viết tiểu thuyết, làm thơ, viết kịch, dựng phim… đều cần những chất liệu mà một mình văn nghệ sĩ không thể có được. Đó là con người thời đó với những chi tiết rất cụ thể. Làm sao có thể hư cấu nên một hình tượng nghệ thuật nếu không hiểu gì về họ, từ hình dáng, tâm lý, ăn mặc, lời nói.
Cho đến nay, chúng ta mới hình dung ang áng ăn mặc thời Hùng Vương qua những hoa văn hình người trên trống đồng Ngọc Lũ và ăn uống của họ qua truyện cổ tích bánh chưng, bánh giày. Chính vì sự nghèo nàn này nên gần đây, trong một truyện tranh cho thiếu nhi, họa sĩ đã thể hiện vua Hùng như một lão nông cởi trần, đóng khố, mũ cắm lông chim bên cạnh vua nước ngoài mũ áo đường bệ, xênh xang.
Trong nhiều vở múa, bài hát và ngay tại di tích đền Hùng hiện nay, cũng không ít những hình ảnh bị lạm dụng đến mức phản cảm đó, chủ yếu vì ta chưa có đủ tài liệu về trang phục cổ. Trang phục dù sao cũng là bề ngoài, còn nhiều vấn đề khác về con người cũng chưa được nghiên cứu tường tận, làm sao có thể có những tác phẩm lớn được.
Như thường lệ, lễ hội đền Hùng năm nay trở lại trong sự nô nức của hàng vạn người và tin rằng nó còn được tôn vinh hơn nữa. Mong sao mỗi kỳ lễ hội còn là dịp giới nghiên cứu và nghệ sĩ cố gắng hơn để thời kỳ Hùng Vương có nhiều bằng chứng hơn, gần cuộc sống hơn và giữ được giá trị văn hoá nguyên thuỷ của nó, không biến một vùng trung du đẹp và huyền bí thành một khu đô thị sầm uất và thực dụng, như nó đã từng âm ỉ diễn ra và ngày càng bùng phát dữ dội hơn, như chuyện san một trong 99 quả đồi huyền thoại để làm nhà phục vụ kinh doanh du lịch mới đây