Cái gì cũng thiếu
Theo đường chim bay, Đồng Mậm cách trung tâm xã gần 15km. Sống giữa mênh mông sóng nước, phương tiện đi lại chính của bà con là thuyền hoặc xuồng máy.
Nếu ai nói: “Dân Đồng Mậm không có thuyền đi, chẳng khác nào người bị mất chân” thì cũng không quá. Những ngày cuối tháng 11, để vào được đây, chúng tôi phải đi nhờ chuyến xuồng máy của một người trong thôn. Sau bốn mươi phút, chuyến “hải hành” mới cập thôn “ốc đảo”. Đập vào mắt chúng tôi là cảnh núi non trùng điệp, hai bên chân núi những nóc nhà mọc rải rác, thấp lè tè.
Ghé thăm nhà chị Giáp Thị Thi, chị cho biết, thôn không có đường bộ nên việc đi lại với bên ngoài rất khó khăn. Chiếc thuyền là phương tiện duy nhất, nhưng giá thành hai ba chục triệu nên không phải nhà nào cũng có điều kiện sắm thuyền riêng. Từ thôn đi ra Ủy ban xã tốn 1,5 lít xăng, nên chỉ khi có việc quan trọng lắm mọi người mới phải lặn lội ra xã.
Gia đình chị Thi là hộ nghèo nhất nhì Đồng Mậm. Hầu hết nhà ở đây đều đắp bằng đất, còn xây bằng gạch giá thành phải đội lên gấp ba lần so với bình thường. Mỗi khi mưa gió, tường nhà rơi từng tảng, nằm trong nhà cũng không yên tâm. Nhưng sợ nhất vẫn là khi có người ốm cần cấp cứu. Người nhà phải chèo thuyền đưa người bệnh sang đất Lạng Sơn, rồi bắt xe xuống bệnh viện tỉnh. “Đi như thế còn gần hơn, chứ đưa người bệnh ra trung tâm y tế xã thì người bệnh đã nguy kịch rồi. Để đề phòng, mọi người thường dự trữ những loại thuốc trong nhà để tự chữa những bệnh thông thường”, chị Thi nói.
Không có đường bộ đã đành, Đồng Mậm cũng không có điện, chuyện xem tivi, đọc báo, hay nhìn thấy ánh đèn điện đều là những thứ xa lạ, tin tức hằng ngày, bà con đều mù tịt. Vài hộ có điều kiện hơn thì chạy máy phát điện, những lúc có đám hiếu, hỉ, hoặc dùng chút buổi tối bởi không thể kham nổi tiền xăng. Chiếc đèn dầu trở thành vật dụng không thể thiếu trong mỗi nhà. Nhưng đáng lo nhất vẫn là việc không có nước sạch sinh hoạt, nhiều người dân than phiền: Để có nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt hằng ngày, trước kia bà con dùng luôn nước hồ, giờ hồ cũng ô nhiễm nên phải lên núi tìm mạch nước rồi bắt ống dẫn về nhà, hoặc đào giếng sâu ít nhất 8m mới có mạch nước. Chỉ tay vào thùng nước đục ngầu, chị bảo, biết là không đảm bảo nhưng vẫn phải dùng chứ biết làm sao.
Thôn Đồng Mậm trải dài khắp mấy quả núi, được chia làm hai đội để dễ quản lý về mặt hành chính. Đi từ đội nọ sang đội kia bằng thuyền máy cũng mất hai mươi phút, càng vào sâu, cuộc sống người dân càng khó khăn.
Vất vả nuôi con chữ
Khó khăn, thiếu thốn là vậy nên việc “gieo” và “nuôi” con chữ “sống” được trên mảnh đất này cũng lắm gian truân. Nhiều năm qua, các cô giáo về đứng lớp và ở luôn tại thôn. Hiện có năm cô đảm nhiệm dạy 46 em, trong đó có 11 em mẫu giáo, 35 em học sinh tiểu học từ lớp 1 đến lớp 5, với năm phòng học. Chứng kiến cảnh học của thầy và trò mới thấy hết được tâm huyết của các cô trong việc mang con chữ tới làng ốc đảo xa xôi này.
Trò chuyện với chúng tôi, cô Hoàng Thị Quy, trong số 46 em thì có hơn 20 em ở đội 2 Suối Khoang. Trước kia, phụ huynh phải tự chèo thuyền đưa các em tới lớp. Khi có thuyền máy, họ bảo nhau góp tiền xăng và thay phiên nhau đưa các em tới trường một ngày hai lần. Những ngày mưa to, gió lớn, đi thuyền rất nguy hiểm nên phải cho các em nghỉ. “Thương hoàn cảnh các em nhỏ nơi đây, tôi đã xung phong xin vào dạy với hy vọng đóng góp một phần sức lực giúp duy trì dạy cái chữ ở nơi này, cô Quy tâm sự.
Ghé thăm lớp học, hình ảnh trước mắt chúng tôi là cảnh hai dãy bàn, các em ngồi quay hai hướng ngược nhau. Cô Quy cho biết, lớp 2 có tám em, lớp 3 vỏn vẹn chỉ có ba em, không đủ sĩ số nên phải xếp học chung, cứ giảng và cho bài tập xong lớp này, lại quay xuống giảng và luyện chính tả cho lớp kia. Gia đình các em đều làm nông, gia cảnh nghèo khó, có em nghỉ học ở nhà giúp bố mẹ làm việc, các cô lại phải tìm đến nhà động viên gia đình cho các em học trở lại. Rồi khi học xong cấp 1, chuyển lên cấp 2, các em phải ra xã học và ở bán trú luôn tại trường, một tuần may ra mới về nhà một lần.
Khi đã tình nguyện vào đây dạy, các cô sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi cùng bà con. Cô Nguyễn Thị Nga, 24 tuổi, một trong những giáo viên trẻ nhất chia sẻ, soạn giáo án, chấm điểm… phải thắp đèn dầu. Mỗi khi về nhà, các cô lại mang thực phẩm để ăn dự trữ, những thứ như cá, thịt, trứng… thì đem ướp muối để giữ được lâu. Nước sinh hoạt sang xin nhà dân nhưng cũng không dám dùng nhiều. “Biết các cô ở ngoài kia vào đây nên dân làng rất quý mến. Chỉ có học chữ thì tương lai các em mới tươi sáng. Không phụ lòng bà con, chúng em sẽ làm hết sức mình”, cô Nga nói.
Rời Đồng Mậm, hình ảnh các em nhỏ phải học dưới ánh đèn dầu, người dân không có nước sạch sinh hoạt… khiến chúng tôi càng đồng cảm với ước mơ muôn đời của họ.
| Ước mơ ngàn đời Ông Giáp Văn Phụ, Bí thư chi bộ cho biết: Thôn có 101 hộ, với hơn 500 nhân khẩu, trong đó 84% thuộc diện hộ nghèo. Bà con tất cả đều làm nông, đồng thời trồng và trông coi rừng, thu nhập trung bình mỗi hộ khoảng 370.000 đồng/tháng. “Chúng tôi khát khao có điện từng ngày, nếu Nhà nước đầu tư kéo điện từ xã vào, bà con sẵn sàng bỏ ngày công và đóng góp thêm”, ông Phụ nói. Ông Vi Văn Sáng, Chủ tịch UBND xã cho biết, Sơn Hải có 5 thôn đều thuộc diện đặc biệt khó khăn, riêng Đồng Mậm do cách xã trung tâm nhất, lại khó khăn về đường đi nên bây giờ vẫn chưa có điện. Ủy ban xã đã đề nghị với cấp trên đầu tư đường điện nhưng do kinh phí quá lớn nên chưa thể thực hiện được. Để giải quyết khó khăn trước mắt, ngoài những chính sách của Nhà nước, chúng tôi cũng hy vọng nhận được các chương trình hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ để xây dựng nhà văn hóa, đường giao thông liên thôn, giáo dục, nước sạch… từng bước cải thiện cuộc sống người dân. |