Những điểm trường cắm bản
Theo chân đoàn quân tình nguyện, chúng tôi “ba lô con cóc” lên đường đến điểm Trường Tiểu học Po Mậu (Co Mạ, Thuận Châu, Sơn La) cách trung tâm thị trấn huyện chừng 70km đường đèo. Vượt qua chục con dốc cao, đổ xuống những con đèo uốn lượn, chúng tôi mới đi được một nửa chặng đường. Từ xa nhìn thấy chiếc cổng trường con con treo hàng chữ Trường Tiểu học Po Mậu, đoàn chúng tôi ai cũng thở phào. Thế nhưng để vượt qua con dốc thẳng đứng, xe nào cũng phải cài số một mới vượt lên được.
Đứng ngoài chiếc sân trường nhỏ tẹo, bụi mù theo bước chân chạy nhảy của các em nhỏ, thầy Hiệu trưởng Vũ Văn Phong đón tiếp chúng tôi. Do thầy là người dân tộc Kinh nên cuộc gặp mặt dù như có chớp nhoáng trong thời gian trao quà cho các em học sinh, chúng tôi cũng đủ hiểu phần nào sự khó khăn trong việc dạy và học của thầy trò nơi đây. “Do đoàn đến vào những ngày cuối năm nên nhiều học sinh đã về nhà ăn Tết” - thầy Phong chia sẻ.
Các em học sinh Trường Tiểu học Po Mậu, Co Mạ, Thuận Châu, Sơn La.
Điểm trường kê lưng vào một sườn núi cheo leo, nhìn từ phía dưới lên trên, những tảng đá nằm vắt vẻo trên những ụ đất đỏ, xen những chòm cây cao, chúng tôi không dám hình dung đến cảnh mỗi khi có mưa lớn, gió to. Những căn nhà nhỏ với màu vôi ve khá cũ, nhem nhuốc bám đầy đất đỏ là nơi khang trang và ấm cúng nhất so với những ngôi nhà vách nứa, xếp gỗ của người dân sống xung quanh. Thầy Phong kể: “Trường thì được xây dựng lâu lắm rồi, từ năm 1967, nhưng mãi đến năm 2006, học sinh nơi đây mới thoát cảnh ngồi trong nhà ghép bằng nứa, tre. Dù đây là điểm trường cắm bản thật, nhưng để đến lớp các em học sinh của tôi vất vả lắm, đi bộ đường rừng mấy tiếng mới tới nơi. Đặc biệt là người Mông, họ sống ở những nơi xa lắm…”.
Cầm trên tay những gói bim bim từ miền xuôi, các em học sinh không khỏi vui mừng, vừa ăn vừa hát quốc ca do thầy Lò Văn Dung bắt nhịp. Nhìn những đứa trẻ lấm lem trên mình chỉ mặc mỗi một chiếc áo cánh, với đôi chân trần trong cái giá lạnh thấu xương mà chúng tôi không khỏi chạnh lòng. Thầy A Dung tâm sự: “Một phần do nhà nghèo các em không đủ quần áo mặc, một phần cũng là các em quen rồi. Có đứa có dép cũng không đi đâu, nói là đi dép không leo được rừng…”.
Thầy cô giáo tận tình
Cả điểm trường có 400 học sinh mà năm học vừa qua, thầy hiệu trưởng Vũ Văn Phong đi nhận đến 600 triệu tiền hộ nghèo cho các em. Phải được Nhà nước chu cấp hết toàn bộ tiền học, sách vở, các em mới có điều kiện đi học. Không chỉ vì cái đói nghèo mà các em không được đến lớp. Mỗi khi đón Tết xong, hay các kì nghỉ dài, các thầy cô giáo lại phải đến từng nhà vận động. “Có khi nhận được tiền hỗ trợ của Nhà nước, phụ huynh học sinh lại dùng vào việc cưới vợ cho con, mua thức ăn về uống rượu. Những học sinh của tôi còn không có áo trắng để đến trường, cái nào cũng màu ngà, cũ kĩ. Có lần đưa mấy đứa ra chợ phiên, đứa nào mặc vừa cái nào là tôi mua cái đấy, phải như vậy thì số tiền hỗ trợ mới đến được với các em…”.
Nhà nước tạo điều kiện đi học mà các em cũng không dễ dàng gì để đến trường đều đặn được. Em Vừ A Sô, người dân tộc Mông, học lớp 3 nói với chúng tôi bằng tiếng Kinh ít ỏi và chậm rãi: “Nhà cháu có đến 5 anh chị em cơ, cháu là thứ 3. Chị thứ hai nghỉ học rồi… Vì sao nghỉ thì cháu không biết…”. Chúng tôi hỏi Sô có lạnh không, Sô ngập ngừng trả lời: “Đi học chỉ có áo này thôi”.
Các em học sinh ở đây đều là con em người dân tộc, mỗi em nói một thứ tiếng nên việc học và hòa đồng với lớp, với trường còn rất nhiều khó khăn. Thầy Phong tâm sự: “Ở đây không có lớp mầm non, nên đến tuổi đi học, chúng tôi đến vận động bà con cho con cháu đi học khó lắm. Họ quan niệm đi học không làm ra cơm gạo. Mà khi bước vào lớp một rồi, các em nửa học kì mới nói và giao tiếp được với giáo viên. Các em chỉ nói được tiếng của dân tộc mình nên việc học khó khăn lắm”.
Thường thì trong các tiết học, các thầy cô kèm cặp khoảng 5 đến 10% là chèn tiếng dân tộc vào trong quá trình giảng dạy. Thầy Nguyễn Văn Long, người dân tộc Kinh, có 3 năm dạy tại điểm trường cho biết: “Để biết được tiếng của các em, các thầy cô giáo dưới xuôi lên đây cũng phải sống như người dân bản địa, ngày dạy học, tối lại đi học. Phải vào bản, học tiếng từ người dân thì mới dạy được con cháu họ”.
May mắn trường nào có các thầy giáo xuất thân là người dân tộc thì công cuộc “học tập” mới đỡ gian nan hơn. Thầy Lò Văn Dung, giáo viên chủ nhiệm lớp 3E cho biết: “Chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn trong việc dạy môn tiếng Việt, vì các em đều phát âm sai, chữ B đều đọc là V… nên khi viết các em đều viết sai chính tả. Đặc biệt, trong chương trình dạy cấp 2, các em còn được học môn tiếng Anh. Tiếng Việt còn sai, học môn tiếng Anh quả là cực kì khó khăn cho các thầy cô”.
Khó khăn là vậy, nhưng qua bao nhiêu năm, các thầy cô giáo trẻ nơi đây vẫn bám trường, bám lớp mang cái chữ đến với học sinh nơi cheo leo dốc núi này. Đường sá đi lại khó khăn, muốn xuống thị xã thì phải đi mất nửa ngày đường xe máy. Muốn mua sắm thứ gì lại phải chờ đến các phiên chợ. Thế nhưng có bao nhiêu thế hệ giáo viên đã gắn bó với các điểm trường và sống như người bản địa.
Lên với các em học sinh nơi đây, các thầy cô giáo phải chấp nhận cuộc sống xa nhà và thiếu thốn đủ bề. Nhưng tại điểm trường này đã có đến gần chục cặp thầy cô giáo chấp nhận định cư ở đây. Những ngày Tết Nhâm Thìn đang dần qua đi, các thầy cô lại tiếp tục hành trình leo núi vào bản, vận động học sinh đến trường sau kỳ nghỉ dài để tìm con chữ