>> Chưa giải quyết được việc “thừa điện vẫn phải mua”
Trong cảnh nỗi lo thiếu điện, cắt điện năm nào cũng thường trực, thì việc ở đâu đó có điện dư thừa không biết chuyển đi đâu thật là điều phi lý. Vậy mà điều phi lý và trái khoáy đó lại đang diễn ra tại Lào Cai. Điện thậm chí dư thừa đến mức trong mười mấy ngày của tháng 5 vừa qua, đã có 52 lần chạy... ngược sang Trung Quốc, dù chúng ta cũng đang phải bỏ ra mỗi tháng vài chục tỷ đồng mua điện của họ để cấp cho chính khu vực này. Vì sự “thiếu đồng bộ” chỗ nọ, “chậm tiến độ” chỗ kia, hay còn vì những lý do nào khác?
Báo CAND ngày 8/8 có phỏng vấn ông Nguyễn Phúc Vinh, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Điện lực miền Bắc, ông Vinh cho rằng: “Thủy điện nhỏ là do Sở Công thương các tỉnh cấp phép. Lưới điện 220kV là do Tổng Công ty Truyền tải điện quốc gia đầu tư, không phải chúng tôi”.
Để rộng đường dư luận, trong số báo này, PV Báo CAND có cuộc trao đổi với ông Trần Quốc Lẫm, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Truyền tải điện quốc gia xung quanh vấn đề này.
- Thưa ông, vấn đề khó khăn nhất của Lào Cai hiện nay là không có lưới truyền tải vòng ngoài để đưa điện đi nơi khác dùng. Vậy trách nhiệm của EVN NPT trong vấn đề thiếu lưới điện tại Lào Cai là như thế nào?
- Ông Trần Quốc Lẫm: Tôi không biết gì về tiến độ các nhà máy thủy điện nhỏ. Chúng tôi làm lưới 220 kV và 500 kV chủ yếu để truyền tải công suất các nhà máy điện lớn. Thủy điện nhỏ là trách nhiệm của các Sở Công thương địa phương và các công ty điện lực. Trong trách nhiệm của mình, chúng tôi đã đóng điện trạm 220 kV Lào Cai và hiện đang đầu tư thêm đường dây 110 kV Tằng Loỏng – Lào Cai. Tuy vậy, xong đường dây ấy các nhà máy thủy điện nhỏ vào vẫn bị vướng. Lào Cai chỉ là một điển hình đầu tiên. Sắp tới, Quảng Nam, Kon Tum cũng có vấn đề về thủy điện nhỏ như vậy.
- Vậy những vướng mắc ấy là do ai?
- Ông Trần Quốc Lẫm: Thực ra, chúng tôi đã nhiều lần họp cùng EVN bàn cách làm sao để giải toả hết công suất các nhà máy thủy điện nhỏ này, rất nhiều biện pháp kỹ thuật đã được đưa ra. Tuy nhiên, với khoảng hơn 1.000 nhà máy nằm rải rác khắp các tỉnh miền núi, công suất rất nhỏ lẻ, để đầu tư lưới truyền tải gom tất cả lại không phải là đơn giản. Hiện nay NPT đang thiếu vốn. Các công ty điện lực cũng thiếu vốn. Từ nay đến năm 2015, chúng tôi cần thêm 120.000 tỷ đồng để đầu tư lưới truyền tải cho các trung tâm nhiệt điện và các nhà máy thủy điện lớn. Riêng lo phần đó đã toát mồ hôi. Để kiếm thêm 9.000 tỷ đồng làm hệ thống đường dây theo qui hoạch thu gom thủy điện nhỏ 3 miền là quá khó. Khi duyệt qui hoạch, Bộ Công thương không hề nói cụ thể trách nhiệm đầu tư lưới truyền tải là của ai.
- Một thực tế rất trái khoáy đang diễn ra, nhưng trách nhiệm lại không thuộc về ai?
- Ông Trần Quốc Lẫm: “Ông” nào ký thỏa thuận đấu nối “ông ấy” có trách nhiệm giải tỏa công suất. Chúng tôi không ký một thỏa thuận đấu nối nào với các nhà máy thủy điện nhỏ cả.
- Vậy từ nay đến cuối năm 2013, công suất của các nhà máy thủy điện nhỏ ở Lào Cai sẽ phát điện lên đến hơn 750 MW biết giải quyết ra sao?
- Ông Trần Quốc Lẫm: Vậy chị phải làm việc với Sở Công thương Lào Cai và các công ty điện lực, là trong số các nhà máy ấy có bao nhiêu đã ký thỏa thuận đấu nối, đã chốt tiến độ chưa, thực tế đầu tư như thế nào? Hay chỉ theo qui hoạch mà nói. Hai cái đó hoàn toàn khác nhau. Thật ra tôi không biết đến 2013 phát được 600 MW hay là bao nhiêu MW. Tiến độ của các nhà máy là bất định. Bây giờ bảo bỏ tiền ra đầu tư trạm biến áp và lưới để chờ thì không ai làm. Còn rất nhiều công trình khác đang chờ vốn. Nếu làm rõ được cụ thể bao nhiêu nhà máy sẽ phát điện vào lưới, lúc đó sẽ có giải pháp. Tổng Công ty Điện lực miền Bắc sẽ phải báo cáo EVN, không mua điện Trung Quốc phần 110 kV qua Lào Cai nữa để sử dụng hết công suất các nhà máy trên địa bàn. Bài toán này là của cấp Bộ và EVN. Phải xem xét lại vì đâu mà có công suất không truyền tải được. Nếu Tổng Công ty Điện lực miền Bắc đã ký hợp đồng mua bán điện thì Tổng Công ty phải bao tiêu, chứ không phải tất cả thuộc về Tổng Công ty truyền tải. Nếu bây giờ có thực tế như vậy, thì Tổng Công ty Điện lực miền Bắc phải báo cáo EVN, báo cáo Bộ Công thương để cùng tìm cách giải quyết.
-Nhưng theo chúng tôi được biết, hiện cái khó của Lào Cai là không có lưới 220 kV để truyền tải điện đi các vùng khác dùng. Mà lưới 220 kV lại do NPT chịu trách nhiệm đầu tư.
- Ông Trần Quốc Lẫm: Đúng. Nếu công trình lưới 220 kV thuộc danh mục trong Tổng sơ đồ 6 (giờ là Tổng sơ đồ 7) thì bắt buộc chúng tôi phải làm, và chúng tôi đã làm. Về lưới 220 kV và 500 kV, Chính phủ giao thì chúng tôi sẽ đảm bảo. Còn vấn đề ở Lào Cai là bài toán của hệ thống, chứ không phải một mình ông nào chịu. Qui hoạch Bộ duyệt đáng lẽ phải phân rõ trách nhiệm.
- Như vậy vẫn chưa rõ trách nhiệm của ai?
- Ông Trần Quốc Lẫm: Đầu tiên trách nhiệm phải là người cấp phép. Khi đã cấp phép đầu tư nhà máy, thì “ông” phải biết là nó truyền tải trên lưới như thế nào. Cái thứ 2 là trách nhiệm thuộc về qui hoạch hệ thống. Với hệ số đàn hồi và tăng trưởng phụ tải các địa phương như bây giờ, thì các tính toán ngày xưa không còn phù hợp nữa. Ông làm lưới và ông làm nguồn độc lập với nhau, nhưng không ngồi lại với nhau đàm phán, mà cứ “nhắm mắt” làm. Chính các nhà đầu tư thủy điện nhỏ cũng phải chịu trách nhiệm. Bộ Công thương đã qui định rất chặt chẽ, nhà máy chỉ được khởi công nếu đã ký hợp đồng mua bán điện và ký thỏa thuận đấu nối. Nếu họ đúng qui trình, cứ theo thỏa thuận mà làm, 2 bên phải đàm phán để tiến độ đầu tư nhà máy và đầu tư lưới phù hợp với nhau. Đằng này, họ chỉ cố chạy giấy phép xây dựng, cấp tập xây mà chưa cần biết nó sẽ truyền tải đi đâu. Rất nhiều nhà máy xây xong chưa ký hợp đồng đấu nối và chưa thỏa thuận giá điện, nên giờ chẳng biết kêu ai.
- Vấn đề là ở chỗ, nếu lưới truyền tải làm đúng theo qui hoạch đã không có tình trạng dư thừa điện. Trong khi đó, được biết theo qui hoạch là phải có trạm biến áp và đường dây 500 kV?
- Ông Trần Quốc Lẫm: Về nguyên tắc, đường dây 500 kV chỉ giải quyết trao đổi điện năng giữa Bắc – Trung – Nam. Theo qui hoạch của Tổng sơ đồ 7 Thủ tướng vừa duyệt và qui hoạch các trung tâm nhiệt điện lớn Bộ Công thương duyệt thì toàn bộ các trung tâm lớn cỡ 2.000 MW đến 4.000 MW thì mới tải bằng cấp 500. Làm một trạm này cần đầu tư cỡ 1.500 tỷ đồng, đường dây khoảng 15 - 20 tỷ đồng/km, thủy điện nhỏ phát được bao nhiêu điện mà đầu tư từng ấy?
- Vậy chẳng lẽ chúng ta chấp nhận để các nhà máy thủy điện nhỏ “chết”?
- Ông Trần Quốc Lẫm: Bài toán này đã mang ra bàn thảo rất nhiều lần, và chúng tôi cũng đã kiến nghị Bộ Công thương rà soát lại tình trạng các dự án thủy điện nhỏ. Giờ chỉ có cách các bên cùng ngồi lại với nhau, chia sẻ trách nhiệm đầu tư, chứ chỉ trông chờ vào điện lực, thì không ai có vốn để làm