Thời gian của phép màu

Mấy năm gần đây, trên một số tờ báo, có người đã đưa ra ý kiến nên bỏ Tết truyền thống mà ăn theo Tết tây. Cho dù những người đó là ai thì tôi cũng nhận thấy rằng: Vẻ đẹp và sự Thiêng liêng của đời sống đã đang rời bỏ họ. Mọi sự bận rộn, lo lắng và áp lực quá lớn về ngày Tết cổ truyền là do họ tạo ra. Và đến một ngày, có những người không chịu được áp lực ấy đã tìm cách chạy trốn…

Mặc dù phải lo lắng và bận rộn chuẩn bị cho Tết nhưng năm nào cũng vậy, cứ vào những ngày giáp Tết, tôi lại có những khoảnh khắc thật xúc động, thật thiêng liêng khi nghĩ về thời gian của một năm cũ sắp qua đi và một năm mới đang về. Những lúc như thế, không khí của những ngày cuối đông lại đưa tôi theo con đường của ký ức để trở về những ngày Tết thuở xưa khi tôi còn là một cậu bé.

Không khí Tết bắt đầu trở về chốn thôn quê ngèo khó khi tôi nhìn thấy thấp thoáng trong những vòm cây thẫm màu của mùa đông là những ngôi nhà vừa mới được quét vôi. Ở làng tôi, hầu như nhà nào cũng quét vôi trắng có kẻ ve hồng ở chân tường. Nhà mới và quần áo mới là hai thứ người thôn quê chuẩn bị đầu tiên đón Tết. Nỗi náo nức lớn nhất của lũ trẻ con trong mọi gia đình là được mặc quần áo mới.

Thế nhưng, chẳng năm nào anh chị em tôi có đủ cả quần và áo mới để đón Tết. Đứa này được quần mới thì thôi áo mới. Có đứa thì chỉ được một chiếc mũ mới hoặc một đôi dép mới. Một câu chuyện mà tôi chẳng bao giờ quên được là câu chuyện về cha tôi. Một năm, cha tôi mua cho tôi một đôi dép để đón Tết. Ông mua đôi dép ấy tại cửa hàng Bách hóa Tràng Tiền. Ông treo đôi dép ở ghi-đông xe đạp và đạp từ cửa hành Bách hóa Tràng Tiền về quê hơn 40 cây số.

Khi về đến nhà, ông phát hiện ra một chiếc dép đã bị rơi mất. Cha tôi bèn đạp xe quay lại với hy vọng tìm lại được chiếc dép và nếu không tìm được thì ông sẽ mua một đôi dép khác cho tôi. Và trong cái ngày giáp Tết ấy, cha tôi đã đạp xe tổng cộng hơn 80 cây số trong mưa rét để mua đôi dép mới cho tôi. Bởi ông biết rằng: Nếu không có một chiếc quần, một cái áo hay một đôi dép mới cho các con khi Tết về thì những đứa trẻ ấy sẽ mang nỗi buồn tủi cho đến tận Tết năm sau.

Có những gia đình làng tôi nghèo khó không thể mua đủ quần áo mới cho các con khi Tết đến, họ phải lấy quần áo cũ của họ lọc ra những miếng lành lặn, chắp lại may quần áo cho con rồi mang đi nhuộm lại cho mới. Và để sáng mồng 1 Tết khi những đứa trẻ thức dậy, chúng sung sướng diện những bộ quần áo mới, đi một đôi dép mới hay đội một chiếc mũ mới với dăm quả pháo tép trong túi và chạy vào sân đình khoe quần áo mới với lũ bạn.

Phiên chợ Tía gần làng tôi họp cuối cùng của năm vào ngày 29 tháng Chạp. Năm nào mà tháng Chạp thiếu thì đó là ngày cuối cùng của năm cũ. Vào phiên chợ Tết ấy, hầu hết những đứa trẻ trong làng đều được bà hoặc mẹ cho đi chợ Tết. Ngày đi chợ Tết hầu như chẳng đứa trẻ nào dậy muộn mà cũng chẳng phải chờ bố mẹ đánh thức.

Lũ trẻ chúng tôi dậy rất sớm và ăn vội củ khoai hay nắm ngô rang và đợi bố mẹ lì xì tiền đi chợ Tết. Từ làng tôi đến chợ chừng hơn một cây số. Đứa trẻ chúng tôi túm áo bà, áo mẹ đi chợ. Hầu hết lũ trẻ con làng chẳng đứa nào đi dép. Giày dép nếu có cũng chỉ để đi đến lớp. Chúng tôi vừa đi vừa chạy dọc con đê dẫn đến chợ.

Bây giờ, bỏ tất ra đi trên sàn nhà lát gỗ cũng thấy lạnh. Nhưng hồi ấy, chúng tôi chẳng biết lạnh là gì. Trên mặt đê làng chạy ven sông Đáy lũ lượt người đi chợ Tết. Đến chợ, lũ trẻ bu vào hàng bán các loại pháo Tết, hàng bán những con tò he bằng đất nung và hàng bánh rán tẩm mật mía. Dù thế nào thì sau buổi chợ mỗi đứa trẻ cũng mua được đôi ba chục quả pháo tép, một con tò he và được ăn một cái bánh rán tẩm mật.

Trên đường từ chợ về nhà, lũ trẻ thi nhau thổi tò he inh ỏi dọc triền đê. Thi thoảng chúng túm lại đốt phát tép đì đoạch. Có một năm, tôi bị chín mé đầu ngón chân không đi chợ được. Tôi ngồi trên hiên nhà khóc tấm tức cho tới khi mẹ tôi và mấy chị em tôi đi chợ Tết trở về.

Và mẹ vẫn mua cho tôi những thứ mà tôi thích: Pháo tép, một con gà bằng đất nung và cả hai chiếc bánh rán tẩm mật. Có lẽ vì tôi ốm nên được mẹ mua cho hai chiếc bánh. Đêm ấy, tôi ôm giữ khư khư con gà trống đất nung và cái túi áo tí hon đựng mấy chục quả pháo tép.

Rồi khi lớn lên cho tới bây giờ, năm nào tôi cũng đưa các con về quê ăn Tết. Đó là khoảng thời gian thiêng liêng nhất trong một năm. Đó là những ngày mà trong lòng tôi vang lên nhiều tiếng gọi. Tiếng gọi của chốn quê, tiếng gọi của những người thân yêu đang sống và cả tiếng gọi của những người thân yêu đã khuất.

Trong những ngày cuối cùng của năm cũ, không chỉ người trong gia đình ngóng người trong gia đình đi xa trở về mà những người làng tôi đều ngóng tất cả những người làng đi xa trở về. Cái ngày cuối cùng ấy nhiều khi như một phép lạ. Có những người tha phương cả đời bỗng tóc bạc về quê. Mỗi khi có một người con đi xa như thế trở về thì cả làng đều biết. Thế là những người đó trở thành nhân vật chính của làng trong những ngày thiêng liêng và đấm ấm đó.

Sự thật là mỗi khi có một người làng bỏ quê đi lâu quá trở về thì cả làng mừng như người đó chết rồi nay đột ngột sống lại. Mẹ tôi thường nấu bánh trưng vào ngày cuối cùng của năm. Và những lúc ngồi bên nồi bánh mẹ tôi lại nhẩm tính xem năm đó làng có bao người biệt xứ giờ đã trở về. Năm nào có nhiều người như thế về quê ăn Tết là người làng tôi vui như là những người đó là của trời ban cho. Niềm vui ấy tôi chỉ hiểu được khi trên đầu tóc đã điểm bạc.

Có người bỏ quê tha hương cầu thực một nửa thế kỷ mới trở về. Về đến đầu làng, người đó gục xuống mà khóc. Người làng ai nhìn thấy cũng khóc. Tiếng khóc ấy là niềm hạnh phúc lớn lao mà có người cả đời không bao giờ được khóc như thế. Bởi có những người bỏ làng và không bao giờ có một mẩu tin. Có thể họ đã chết. Nhưng nhiều người không chết mà không trở về được.

Cứ đến buổi chiều của ngày cuối năm thì người làng mang hương ra thăm phần mộ những người thân của mình. Họ ra mời những người đã khuất về nhà ăn Tết. Ngày hôm đó, ngay sau bữa trưa cha tôi đã nhắc tôi dẫn các con, các cháu tôi ra mời những người thân của gia đình tôi đã khuất về ăn Tết. Anh em tôi cùng các con, các cháu ăn mặc sạch sẽ và náo nức đi về phía cánh đồng cuối làng. Buổi chiều hôm ấy, tất cả đều dành cho hai việc: Mời những người đã khuất về ăn Tết và chuẩn bị bữa cơm cúng tất niên…

Trên con đường ra nghĩa địa, những  người  làng  gặp  nhau đều hỏi một câu : “ Anh (chị) ra mời các cụ về ăn Tết đấy ạ!”. Câu hỏi ấy hoàn toàn như là hỏi về một người đang sống. Nếu có ai vì công việc gì đó ra nghĩa địa muộn thì những người khác hỏi: “Sao ra mời các cụ về ăn Tết muộn thế?”. Việc ra nghĩa địa mời những người đã khuất về ăn Tết hoàn toàn giống việc đến bến xe ở phố huyện đón người nhà đi xa về. Khi các con, các cháu tôi còn nhỏ, lần đầu tiên tôi đưa chúng ra thăm những ngôi mộ và bảo chúng hãy mời các cụ kị về ăn Tết.

Con trai tôi đã hỏi làm sao những người chết rồi vẫn sống lại được mà về. Cháu hỏi với một sự sợ hãi của một đứa trẻ và một câu chuyện ma trong những nghĩa địa mà ít nhất nó đã một lần được nghe. Nhưng cho đến bây giờ, con trai tôi tin điều đó như tôi đã tin. Không phải cháu tin chuyện đó như tin vào một câu chuyện cổ tích mà bởi có gì đó thực sự thiêng liêng, thực sự gần gũi và thực sự ấm áp đã dâng lên trong tâm hồn nó.

Cả khu nghĩa địa của làng trong buổi chiều cuối cùng của năm cũ nhộn nhịp người đi lại. Họ thắp hương và chắp tay khấn mời những người đã chết về sớm để kịp cùng những người thân của mình đang sống ăn bữa cơm cúng tất niên. Và lúc nào tôi cũng thấy những người đã khuất khăn áo đẹp đẽ, nói cười vui vẻ và giục nhau trở về cho sớm. Họ cũng như những người đi làm ăn hoặc sinh sống ở xa giờ về quê ăn Tết mà tôi vẫn gặp ở bến tàu, bến xe trong những ngày cuối năm.

Nhiều lúc ngồi nghĩ lại tôi cứ băn khoăn tự hỏi có phải mình đã tận mắt nhìn thấy những người đã khuất trong buổi chiều cuối năm ấy không hay chỉ là ảo giác hay chỉ là tưởng tượng?  Nhưng dù cho thế nào chăng nữa thì lòng tôi thực sự đã gặp lại tất cả những người đã khuất của làng tôi. Bởi những lúc như thế, một cảm giác thân yêu và ấm áp tràn ngập trong lòng.

Và suốt cả buổi chiều ngày cuối năm ấy cho đến phút giao thừa, trong đầu tôi lúc nào cũng vang lên tiếng chào hỏi, tiếng cười nói của những người đã khuất. Trong ngày ấy, tôi không hề lưu giữ trong lòng mình bất cứ một chút nào cái cảm giác buồn thương về những người thân của mình đã khuất kể cả những người mất đi khi còn rất trẻ. Chính thế mà tôi thấy họ vẫn còn sống một cách trọn vẹn. Và cảm giác ấy chỉ có trong ngày cuối cùng của năm cũ chuẩn bị bước sang một năm mới. Đó có phải là một phép lạ không ? Hoàn toàn là một phép lạ.

Tôi thực sự không phải là một người cổ hủ hoặc người hoài cổ. Ai biết tôi chắc đều thừa nhận điều này. Tôi chỉ là người nhận được sự ấm áp, sự thương yêu và thiêng liêng trong thời gian chuyển từ năm cũ sang năm mới. Và trong chính những khoảng thời gian như thế, lòng tôi được rót đầy vẻ đẹp, tình yêu thương và sự thiêng liêng của đời sống này. Và với tôi, như thế là một hạnh phúc lớn.

Nguyễn Quang Thiều

Các tin khác

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Thư gửi con của anh hùng Lê Thị Riêng

Những lá thư gói trọn tình yêu, nỗi nhớ và khát khao mong chờ ngày đoàn tụ gia đình, gặp lại con thơ và người chồng yêu thương của Anh hùng LLVTND Lê Thị Riêng vẫn được người con trai của bà lưu giữ, bảo quản trang trọng trong trái tim và ký ức…

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Bài cuối: Tiếp nối lời hứa với những người nằm lại

Ở nhiều vùng quê của Quảng Trị, những người đến lấy mẫu sinh phẩm ADN cho thân nhân liệt sĩ không chỉ mang theo các thiết bị chuyên dụng, hồ sơ nghiệp vụ hay biểu mẫu thu nhận thông tin. Họ còn mang theo một lời hứa. Đó là sẽ cố gắng làm tất cả những gì có thể để thêm một người lính nữa được gọi đúng tên.

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Bài 2: Từ di vật chiến tranh đến tên người lính

Tháng Bảy trên miền đất thiêng Quảng Trị, nhiều cuộc tìm kiếm vẫn đang tiếp diễn. Có gia đình vừa đón được người thân trở về nhờ giám định ADN. Có những người vẫn băng rừng lần theo từng dấu tích chiến trường. Và cũng có những cuộc tìm kiếm đã khép lại từ một di vật tưởng chừng vô tri nằm dưới lòng đất hơn nửa thế kỷ.

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Giữ bình yên phía sau cánh cổng thép

Khám phá công việc của cán bộ quản giáo và chiến sĩ thi hành án tại Gia Lai, những chiến công thầm lặng bảo vệ an ninh, cảm hóa người lầm lỗi.

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Bài 1: Những cuộc tìm kiếm chưa bao giờ dừng lại

Tháng Bảy, khi hàng vạn người từ khắp mọi miền đất nước về Quảng Trị dâng hương tri ân các anh hùng liệt sĩ, trên mảnh đất từng là chiến trường ác liệt này vẫn có những cuộc tìm kiếm lặng lẽ diễn ra. Có gia đình sau hơn nửa thế kỷ mới xác định được nơi người thân yên nghỉ nhờ giám định ADN. Có những người vẫn mang theo tấm sơ đồ cũ băng rừng, vượt suối để tìm cha. Mỗi cuộc tìm kiếm là một hành trình đi qua thời gian, nối quá khứ với hiện tại bằng khát vọng đưa những người lính trở về với gia đình và quê hương.

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Tháng Bảy tri ân ở “tọa độ lửa” Ngã ba Đồng Lộc

Những ngày tháng Bảy, hàng vạn du khách từ khắp nơi trên mọi miền đất nước đã tìm về "địa chỉ đỏ" Khu di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh) để tri ân, tưởng nhớ 10 liệt nữ TNXP và các anh hùng, liệt sĩ nhân dịp kỷ niệm 58 năm Chiến thắng Đồng Lộc (24/7/1968 - 24/7/2026) và 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2026).

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Lời thề trước giờ ra trận và hành trình tìm đồng đội của bác sĩ già

Dưới cái nắng oi ả của những ngày trung tuần tháng 7, tại Công viên Lê Thị Riêng (TP Hồ Chí Minh), không khí làm việc của Đội Tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh TP Hồ Chí Minh diễn ra khẩn trương nhưng cẩn trọng và khoa học. Bên những hố đất sâu, có bóng dáng một người đàn ông năm nay đã 82 tuổi với cặp kính dày, đôi tay tỉ mỉ gạt từng lớp bùn đất, phân loại từng mẩu xương, từng di vật nhỏ…

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Hiệu quả chuyển đổi số trong ngành thuế

Chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong quản lý Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - thuế, nơi yêu cầu cao về tính minh bạch, chính xác và kịp thời. Ngành thuế Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, số hóa quy trình quản lý nhằm xây dựng hệ thống thuế hiện đại, lấy người nộp thuế làm trung tâm phục vụ.

Chuyện tình bất tử của cô giao liên bên sông Vàm Cỏ Đông

Chuyện tình bất tử của cô giao liên bên sông Vàm Cỏ Đông

Chiến tranh "mượn" ông đi nhưng chưa trả lại cho bà. Một lời hứa, đợi chờ kéo dài tận 6 thập kỷ còn mãi trong tim. Thương một người hẹn mãi mãi không về, quý một người giữ mãi đợi chờ. Đó là chuyện tình bất tử của liệt sĩ Huỳnh Văn Quên và cô giao liên Nguyễn Thị Lệ.

Bài 2: Không ngại gian khó, hiện thực hóa khát vọng sớm đưa các liệt sĩ về với quê hương

Bài 2: Không ngại gian khó, hiện thực hóa khát vọng sớm đưa các liệt sĩ về với quê hương

Tháng Bảy - tháng Tri ân, tại nhiều nghĩa trang liệt sĩ và những địa bàn từng là chiến trường ác liệt năm xưa ở miền Trung, cuộc hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng khẩn trương triển khai. Từ những phần mộ chưa biết tên đến các khu vực nghi còn hài cốt liệt sĩ trong rừng sâu, núi cao hay dưới lòng đất của các chiến trường cũ, tất cả đều đang được rà soát bằng nhiều giải pháp đồng bộ, với mục tiêu trả lại tên tuổi cho những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bài 1: Ký ức dẫn đường nơi… “đất lửa”

Bài 1: Ký ức dẫn đường nơi… “đất lửa”

Triệu con tim của cả nước đang hướng về “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ". Những ngày này, việc thực hiện chiến dịch đang diễn ra rất khẩn trương tại tất cả các địa phương. Và lực lượng Công an đang bám sát nhiệm vụ mà Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ giao cho.

Gặp nữ chiến sĩ kiên trung của Ban An ninh Quảng Đà

Gặp nữ chiến sĩ kiên trung của Ban An ninh Quảng Đà

Từ cô gái 15 tuổi làm giao liên giữa vùng địch kiểm soát đến nữ Đội trưởng Đội trinh sát An ninh vũ trang huyện Duy Xuyên (Quảng Nam cũ) lập nhiều chiến công vang dội trên chiến trường Quảng Đà, Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Xoa đã dành trọn tuổi thanh xuân cho cách mạng. Hơn 50 năm sau ngày đất nước thống nhất, người nữ chiến sĩ năm xưa vẫn lặng lẽ tiếp tục hành trình cống hiến... 

Thầm lặng "gác bầu trời" để pháo hoa tỏa sáng đôi bờ sông Hàn

Thầm lặng "gác bầu trời" để pháo hoa tỏa sáng đôi bờ sông Hàn

Khi hàng vạn người dân và du khách ngước nhìn bầu trời sông Hàn (Đà Nẵng) chờ đón những màn pháo hoa rực rỡ của Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 (DIFF 2026), ở một "mặt trận" khác, những cán bộ, chiến sĩ Công an TP Đà Nẵng vẫn lặng lẽ canh giữ vùng trời lễ hội. 

Khi AI bước vào tòa soạn…

Khi AI bước vào tòa soạn…

Chiều muộn, tại một toà soạn ở Hà Nội, những phóng viên vẫn lạch cạch gõ chữ. Những bài báo dần lên khuôn hình. Thế nhưng, thay vì căng mắt dò lỗi bài viết, giờ đây phóng viên có thể nhấn một câu lệnh, chỉ trong tích tắc các lỗi chính tả sẽ được AI báo về. Điều đáng nói, “dò lỗi” chỉ là một công việc rất nhỏ trong muôn vàn công đoạn khác mà giờ đây AI có thể hỗ trợ các toà soạn báo.

Báo chí tìm hướng đi mới trong kỷ nguyên AI

Báo chí tìm hướng đi mới trong kỷ nguyên AI

Trong thời đại mà trí tuệ nhân tạo (AI) phát triển tới mức có thể viết các bài báo, tóm tắt sự kiện và đưa ra những phản hồi mang tính thời sự chỉ trong vài giây, “AI đang thay đổi báo chí đến mức nào” là một câu hỏi không thể né tránh.

“Những năm tháng khốc liệt” của nhà báo cựu tù Côn Đảo

“Những năm tháng khốc liệt” của nhà báo cựu tù Côn Đảo

Ký ức chiến tranh, niềm trăn trở và ám ảnh về năm tháng tù đày đã thôi thúc người cựu tù Côn Đảo cầm bút viết nên cuốn sách “Những năm tháng khốc liệt”. Với chất liệu sống thô ráp, chân thực, cùng khoảng thời gian chịu đựng mọi đòn roi tra tấn và khổ đau tận cùng của kiếp người đã tạo nguồn cảm xúc giúp tác giả Hoàng Phương kể lại câu chuyện của đời mình cùng những người bạn tù “nơi địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Vùng cát trắng khô cằn Nam Cửa Việt đổi thay từng ngày

Trên dải cát trắng khô cằn ven biển, thôn Phú Hội, xã Nam Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị đang chứng kiến sự chuyển đổi rõ nét khi nhiều mô hình nuôi trồng thủy sản mới như ốc hương, cá kình, cá lăng đuôi đỏ… từng bước mở rộng. Những đối tượng nuôi đa dạng, ứng dụng kỹ thuật mới không chỉ mở ra hướng khai thác hiệu quả hơn vùng đất cát, mà còn tạo thêm nguồn thu hàng trăm triệu đồng mỗi năm cho nhiều hộ dân.

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.