Bà con đồng bào các dân tộc anh em chung sống trên mảnh đất Tây Nguyên thân yêu hôm nay đều nhận rõ, sự đổi thay, phát triển của buôn làng có được là nhờ những chủ trương đúng đắn của Đảng, chính sách đầu tư hợp lý của Nhà nước cho vùng Tây Nguyên.
Có thể nhận thấy, những ngày mới giải phóng năm 1975, vùng đất Tây Nguyên hằn sâu nhiều dấu vết bom đạn chiến tranh cày xới. Nhớ những ngày tháng ấy không sao kể hết vô vàn khó khăn, thách thức, từ đời sống kinh tế, xã hội của bà con đồng bào ở địa phương còn nhiều thiếu thốn, hoạt động của bọn phản động FULRO diễn biến khá phức tạp. Cuộc sống người dân khó khổ, những người lính ở Tây Nguyên cùng cán bộ chính quyền cơ sở đều phải ăn củ rừng thay cơm, bám sát địa bàn cơ sở, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào, chia sẻ đắng cay, ngọt bùi.
Bây giờ nhắc lại chuyện đói khi ấy, các già làng ở làng Pong, làng Ghè, làng Chan, Grôn… huyện biên giới Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, ai cũng đau lòng. Ngày ấy, đồng bào vùng biên giới Đức Cơ chỉ biết nhờ vào tự nhiên của nương rẫy. Cả những đứa trẻ mới sinh chỉ vài ngày tuổi cũng phải đeo trên lưng mẹ ra rẫy chặt cây tỉa bắp, bỏ hạt lúa cho mùa sau có cái để ăn. Nhưng “Yàng” không thương nên bà con phải đói giáp hạt, người làng đi vào rừng đào củ mài ăn thay gạo. Nhưng đâu dễ yên thân, rừng thiêng, nước độc, bom mìn chiến tranh còn nằm dày đặc dưới lòng đất Tây Nguyên nên cuộc sống bà con vẫn luôn rình rập trong bao nỗi đau thương… Dẫu đói nghèo nhưng đồng bào Tây Nguyên, trước sau vẫn một lòng theo Đảng, vượt qua khó khăn để từng bước vươn lên.
Đến khi có nghị quyết đổi mới của Đảng đi vào cuộc sống, vùng đất Tây Nguyên bắt đầu thực sự đổi thay. Cây lúa nước được đưa vào nhân rộng cho bà con gỡ đói. Thoát đói, bà con bắt đầu phát triển được cây cao su, cà phê… và làm giàu trên vùng đất đỏ bazan. Bà con đồng bào Tây Nguyên bây giờ giàu lên ai cũng không thể quên ơn những người lính Binh đoàn 15, những công nhân cao su đầu tiên của Tập đoàn Cao su Việt
Đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên có cuộc sống khấm khá nhờ biết trồng, khai thác cây cao su.
Bây giờ đến Tây Nguyên, được đi thăm các đơn vị sản xuất, được tận mắt ngắm vườn cà phê, cao su xanh ngút ngàn tầm mắt, ai cũng thấy sướng. Có hộ công nhân người dân tộc thiểu số ở những công ty 74, 75 mỗi tháng nhận từ 15 đến 20 triệu đồng/tháng. Có nhà thơ gọi Binh đoàn 15 là “Binh đoàn xanh” ở Tây Nguyên bây giờ. Màu xanh ấy khắc ghi bao công lao, sức lực của những người lính Binh đoàn 15 với đồng bào các dân tộc anh em sinh sống ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk và bây giờ đang mở rộng đầu tư, giúp đỡ sang nước bạn Lào.
Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về phát triển vùng Tây Nguyên, bước đầu đã đạt được nhiều thành quả quan trọng. Từ năm 2001 đến nay, vùng Tây Nguyên đã có những chuyển biến rất tích cực, GDP năm 2010 tăng 2,8 lần so với năm 2001, đạt mức tăng bình quân 11,9%/năm; năm 2011 tăng trưởng 13,52% so với năm 2010; quý I-2012 tăng 12,80% cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh, từ 2,9 triệu đồng (năm 2001) lên 20,37 triệu đồng (năm 2011). Khoảng cách này năm 2001 bằng 47% của cả nước thì đến năm 2011 bằng 75,44%. Hạ tầng nông thôn phát triển khá, có 91% số xã có đường ôtô đến trung tâm đi được cả hai mùa, đường giao thông nông thôn đã đến hầu hết các buôn làng, kể cả vùng sâu, biên giới. Có 98% số thôn làng có điện lưới quốc gia, 92% số hộ được dùng điện, 68% hộ được dùng nước sạch, 95% số xã có báo viết đến trong ngày. Trên 91% buôn làng và 87% số hộ dân tộc thiểu số tại chỗ đã định cư, định canh (có trên 66,5% số hộ định canh định cư vững chắc).
Đến nay, Tây Nguyên về cơ bản đã xóa được tình trạng thiếu đói triền miên trong vùng dân tộc thiểu số. Tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2001-2005 giảm bình quân 2,6%/năm; giai đoạn 2006-2010 giảm bình quân 3,16%/năm; năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,42% (còn 19,06%), đến quý I-2012 còn 18,92%. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đẩy mạnh.
Kết luận 12-KL/TW ngày 24/10/2011 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) phát triển vùng Tây Nguyên thời kỳ 2011-2020 đã đánh giá: Sau gần 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ Chính trị và các chủ trương, chính sách khác của Đảng và Nhà nước, Tây Nguyên đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa rất quan trọng.
Kinh tế của vùng từ chỗ mất cân đối, tốc độ tăng trưởng thấp, cơ cấu lạc hậu đã chuyển dịch mạnh mẽ và phát triển theo hướng đa dạng với quy mô, chất lượng, hiệu quả ngày càng tăng; thu nhập và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Nhiều vấn đề xã hội bức xúc đã được tập trung giải quyết, nhất là vấn đề đất đai, nhà ở, việc làm, xóa đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số…