Mặc dù lãi suất cho vay đã giảm mạnh trong những tháng đầu năm 2013 nhưng tín dụng vẫn không thể tăng cao do khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang suy yếu. Trong đó, nguyên nhân chính là do tổng cầu giảm, lượng hàng tồn kho vẫn còn cao đã khiến cho DN không còn nhu cầu và động lực để vay vốn NH. Để tháo gỡ khó khăn về đầu ra cho DN, các chuyên gia kinh tế cho rằng, cần phải tăng cường kích cầu thị trường nội địa thông qua tiêu dùng của người dân và đầu tư công của Chính phủ.
Doanh nghiệp “đuối dần” vì sức mua yếu
Ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng Giám đốc VPBank cho biết: Lâu nay chúng ta cứ cho rằng, nguyên nhân dẫn đến sự “ra đi” của hàng loạt DN trong thời gian qua là do lãi suất cao. Điều này đúng nhưng chưa đủ bởi lẽ trên thực tế, chi phí vốn, trong đó có vấn đề lãi suất chỉ chiếm khoảng từ 15-20% tổng chi phí của DN. Cũng theo phân tích của ông Vinh, nguyên nhân cơ bản và thực sự khiến DN “chết mòn” là do cơ cấu kinh tế yếu, cung và cầu bất thường thể hiện ở chỗ chi phí của cả Chính phủ lẫn người dân đều giảm.
Trong 5 tháng đầu năm 2013, dù kinh tế khó khăn, song tiền gửi tiết kiệm của người dân lại có xu hướng tăng lên. Điều này cho thấy, do lo lắng bất ổn nên người dân không đầu tư cũng chẳng tiêu dùng. Sức mua yếu, tổng cầu giảm đã khiến cho hàng hóa của DN sản xuất ra không bán được. Kết quả là tình trạng DN bị đình trệ, co cụm, thậm chí tạm ngừng hoạt động diễn ra ở khắp nơi.
Từ góc độ DN, ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch Hội Doanh nhân trẻ Việt Nam cũng cho rằng: Thực tế cho thấy cái khó của DN hiện nay còn khó hơn cái mà mọi người vẫn nghĩ. Trong đó, khó khăn lớn nhất không còn là vấn đề lãi suất hay thuế suất, mà là cầu thị trường quá thấp, sức mua của người dân quá yếu. Bằng chứng là không chỉ bất động sản mà tất cả các nhóm hàng khác, số lượng hàng tồn kho vẫn chưa có xu hướng giảm. Có một thực tế khá đau xót là trên 50% doanh nhân trẻ không tin là có thể trụ nổi qua giai đoạn này.
Còn bà Vũ Thị Thuận, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Traphaco thì khẳng định: Hạn chế, cũng là khó khăn lớn nhất của DN Việt hiện nay, vẫn là đầu ra cho sản phẩm và hệ thống phân phối. Theo chuẩn quốc tế thì cứ một DN sản xuất phải có 4 DN bán hàng. Nếu áp dụng tiêu chí này vào Việt Nam thì sẽ thấy, có rất ít DN đạt chuẩn. Đây cũng là lý do khiến khả năng cạnh tranh của các DN Việt thấp, trong khi đó, chỉ số hàng tồn kho lại luôn ở mức cao, nhất là trong bối cảnh sức mua của người dân đang suy giảm do khủng hoảng kinh tế.
Kích cầu nội địa để giảm thiểu hàng tồn kho
Theo quan điểm của TS.Nguyễn Sỹ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, một trong những giải pháp để tháo gỡ khó khăn về đầu ra cho DN, đặc biệt là vấn đề tồn kho là cần phải kích tổng cầu của nền kinh tế, trong đó có đầu tư công của Chính phủ và tiêu dùng của người dân ngay tại thị trường nội địa. “Nhà nước sắp tới có một loạt chính sách, dùng các công cụ tài khóa để giúp nâng tổng cầu, đây thực sự là một cơ hội rất tốt. Do đó, DN cần phải nghiên cứu kỹ lĩnh vực kinh doanh của mình có nằm trong chính sách đó không và tìm cách tiếp cận”- TS. Nguyễn Sỹ Dũng chia sẻ.
Cũng theo TS.Nguyễn Sỹ Dũng, đối với đầu tư công của Chính phủ, những công trình có vốn ODA nếu thiếu một ít để giải phóng mặt bằng chẳng hạn, thì cần phải chi ngay khoản đó để giải ngân và kích cầu. Hơn nữa, nhà nước cũng cần cân nhắc nới lỏng chính sách tài khóa, tuy nhiên cần phải cẩn trọng lạm phát quay trở lại. Đơn cử, những công trình đã xây dựng tới 80% thì phải khởi động xây dựng tiếp, có như vậy tổng cầu mới tăng được.
Đối với DN, “trước khi đầu tư, các DN cần phải nghiên cứu sâu về nhu cầu của thị trường, nên nhớ, nhu cầu có thể trì hoãn hoặc chuyển đổi được, nhưng có những loại cầu không thể trì hoãn được, chẳng hạn ăn uống, may mặc… Nhưng nếu giờ mà đầu tư vào khu giải trí cao cấp chẳng hạn thì sẽ thất bại, đây là những loại cầu mà người ta có thể trì hoãn được, thậm chí trì hoãn vô tận được” - TS.Nguyễn Sỹ Dũng nhấn mạnh.
Đồng quan điểm trên, PGS.TS Đặng Văn Thanh - nguyên Phó Chủ nhiệm UB Ngân sách, tài chính của Quốc hội, Chủ tịch CLB các nhà công thương Việt Nam nhấn mạnh thêm: Để giải quyết hàng tồn kho, DN không chỉ giảm giá mà phải làm sao biết chăm sóc khách hàng, thậm chí chấp nhận lợi nhuận ít, tạo điều kiện để DN đối tác có vốn…Thậm chí, trong nhiều trường hợp phải dùng các mô hình quản trị tài chính hiện đại thì mới giải quyết được vấn đề.
Cũng theo PGS. Đặng Văn Thanh, hàng tồn kho luôn gắn với nợ đọng, vì vậy vấn đề đầu tiên là các DN phải xác định xem hàng tồn kho của mình thuộc loại nào, chất lượng ra sao, quy cách phẩm chất thế nào, nhu cầu thị trường… đồng thời phải kiểm kê lại khách hàng truyền thống tại sao họ lại rời bỏ ta. Cần phải làm rõ mình đang nợ ai, ai đang nợ mình, khoản nào có thể tháo gỡ được, thậm chí trong chừng mực nào đó, cần có sự tham dự của các cơ quan chủ quản cũng như sự góp sức từ Chính phủ thông qua các công cụ chính sách như kích cầu tiêu dùng từ đầu tư công, giảm thuế và các chính sách ưu đãi khác