Sự thực về Tam Giác Vàng

Có hai địa danh “Tam Giác Vàng”: Mảnh đất được gọi là Tam Giác Vàng là vùng đất bồi giữa sông Mê Kông nằm giữa biên giới 3 nước và thuộc lãnh thổ Myanmar. Còn khu vực Tam Giác Vàng là chỉ vùng đất rộng có đến bằng một nửa miền Bắc Việt Nam và toàn là núi non hiểm trở và có độ cao trên 1.000 mét. Với điều kiện tự nhiên như vậy, nên chỉ có trồng thuốc phiện là “ngon ăn” nhất.

Do tình hình biên giới Myanmar - Thái Lan - Lào tại khu vực ngã ba biên giới đang có những phức tạp cho nên chuyến đi của tôi sang vùng Tam Giác Vàng gặp khá nhiều trở ngại. Lãnh đạo Công an tỉnh Bò Kẹo và cán bộ của Tổng cục Chính trị Bộ An ninh Lào đi cùng tôi dứt khoát không muốn cho tôi sang bên khu Tam Giác Vàng và các anh cũng nói thẳng là sẽ không chịu trách nhiệm nếu như tôi cứ quyết tâm đi.

Thật ra, để đến được cái khu có tấm biển đề “Golden Triangle” (Tam Giác Vàng) trên đất Thái Lan ở bên kia sông Mê Kông, đối diện với tỉnh Bò Kẹo thì chẳng khó khăn gì. Chỉ cần mất vài ba triệu đồng tiền Việt Nam, đi theo một tua du lịch khoảng 2 ngày là có thể đến được nơi đó rồi lại còn đi thăm thú được một số danh lam thắng cảnh ở tỉnh Chiang Rai (Thái lan) và thành phố Tachilek (Myanmar).

Nhưng nếu đi theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa” hay nói hình tượng như cách nói của người Mông là “như người đi xin lửa” thì có giỏi lắm cũng chụp được vài tấm ảnh và biết giá cả mấy mặt hàng lưu niệm... Mà trời đất vùng ngã ba dạo này cứ “mờ mờ nhân ảnh” thì có chụp ảnh cũng chả đẹp được.

Từ trước tới nay, tôi vẫn có quan niệm khá thô thiển về nghề viết  báo như thế này: Nghề viết báo, đôi khi đòi hỏi người phóng viên phải như con... chó, dám xông đến tận nơi “có mùi”. Cho nên đã đến được ngã ba biên giới này mà chưa đến được những nơi cần phải đến thì đúng là “ăn không ngon, ngủ không yên”.

Đang lúc “tiến thoái lưỡng nan”, may mắn thay tôi gặp được mấy anh bạn đang làm ăn ở các tỉnh Bắc Lào. Thế là họ giới thiệu cho tôi một người Thái Lan, chuyên phiên dịch tiếng Pháp cho các tua du lịch.

Theo giới thiệu thì người này tuy trẻ tuổi, nhưng am hiểu khu Tam Giác Vàng như hiểu “mảnh vườn của mình”, đồng thời có kiến thức lịch sử khá tốt, và quan trọng hơn nữa là anh ta có mối quan hệ rất thân tình với Cảnh sát tỉnh Chiang Rai của Thái Lan và thành phố Tachilek của Myanmar...

Vậy là tôi quyết định lên đường sau một cú điện thoại liên hệ trực tiếp với người dẫn đường. Sáng hôm sau, tôi qua sông Mê Kông sang cửa khẩu Thái Lan và đã thấy người dẫn đường đứng chờ. Đó là một anh chàng vóc người nhỏ thó, lanh lợi và có cái tên khá lạ - Kha.

Trước lúc lên ôtô để đi đến Chiang Sean, Kha dặn dò tôi một số điều. Đại loại là nếu gặp các tổ tuần tra của Thái Lan thì cứ mặc anh ta lo, tất nhiên, phải chuẩn bị sẵn “chút ít”. Ngoài ra có một số nơi, như ở bảo tàng ma túy, người ta cấm chụp ảnh, nhưng nếu muốn thì vẫn có cách. Tất nhiên, cũng cần phải có “chút ít”...

Từ cửa khẩu đi lên nơi để ngắm Tam Giác Vàng ngót 70 cây số. Mặc dù đường tốt và vắng, nhưng lái xe chỉ chạy tốc độ dưới 80 km/giờ. Cũng phải nói thêm rằng ở bên Lào, cũng như Thái Lan, lái xe chấp hành Luật Giao thông rất tốt, đặc biệt là ở Lào. Rất hiếm khi thấy xe vượt ẩu, chèn lên hoặc nghênh ngang không chịu nhường đường.

Nơi mà du khách ngắm toàn cảnh ngã ba biên giới Thái Lan - Lào - Myanmar là quả đồi có tên Sop Ruak. Nhưng ngay từ dưới chân đồi đã dày đặc những hàng quán, cửa hàng bán đồ lưu niệm, và rất nhiều cổng đề “Golden Triangle”.

Đồi Sop Ruak chỉ cao khoảng hơn trăm mét. Nhưng với độ cao này, ta có thể thấy được toàn bộ vùng ngã ba biên giới. Phía đông bắc, bên kia sông là nước Lào với một  tổ hợp công trình xây dựng khổng lồ gồm sòng bạc, nhà hàng, khách sạn. Và để đảm bảo an toàn cho công trình, họ phải kè lại bờ sông Mê Kông đang sạt lở nghiêm trọng bởi bị ngọn nước xối thẳng vào góc ngã ba.

Chếch lên phía bắc, phía bên này sông là lãnh thổ Myanmar với những mái chùa vàng rực và những ngôi mộ trắng lấp lóa. Cũng không khó lắm có thể thấy bằng mắt thường những tốp lính Myanmar đang đi tuần trên mảnh đất bồi giữa sông mà được ghi trên bản đồ là Tam Giác Vàng.

Mảnh đất bồi giữa sông mà được gọi là “Tam Giác Vàng” đã ghi trên bản đồ thật ra nom hệt hình dáng một nửa mũi long đao mà mũi nhọn của nó hơi quay sang phía đông. “Tam Giác Vàng” này có chiều dài không đến một nửa cây số và có chiều rộng nhất cũng chỉ 300 mét.

Bãi bồi giữa sông được gọi là Tam Giác Vàng.

Bãi bồi giữa sông được gọi là Tam Giác Vàng.

Thật ra, xưa kia mảnh đất bồi này chẳng làm gì có tên. Nhưng từ năm 1955, khi mà vùng đất rộng mênh mông trải dài từ  tỉnh Mong Hpayak của Myanmar sang Chiang Rai của Thái Lan và Luông Nậm Thà, U Đôm Say, Phong Sa Lì của Lào trở thành nơi trồng, sản xuất buôn bán thuốc phiện vào loại lớn nhất thế giới dưới sự chỉ huy của Khun Sa... thì cái tên Tam Giác Vàng mới có.

Như vậy có hai địa danh “Tam Giác Vàng”:

Mảnh đất được gọi là Tam Giác Vàng là vùng đất bồi giữa sông Mê Kông nằm giữa biên giới 3 nước và thuộc lãnh thổ Myanmar .

Còn khu vực Tam Giác Vàng là chỉ vùng đất rộng có đến bằng một nửa miền Bắc Việt Nam và toàn là núi non hiểm trở và có độ cao trên 1.000 mét. Với điều kiện tự nhiên như vậy, nên chỉ có trồng thuốc phiện là “ngon ăn” nhất. Các loại cây lương thực như ngô, sắn, lúa thì năng suất không cao, hơn nữa nếu cố làm thì cũng chỉ tạm thoát đói, cho nên suốt từ năm 1952 cho đến khi Khun Sa buông súng quy hàng Chính phủ Myanmar vào năm 1996, vùng đất này là nơi sản xuất ra hơn 3/4 sản lượng ma túy trên thế giới. Giai đoạn cao điểm nhất là từ năm 1970 đến 1990, đã có hơn 160 ngàn hécta thuốc phiện và cần sa trên lãnh thổ Myanmar, còn trên đất Thái Lan và Lào, diện tích trồng thuốc phiện thì cây không thể tính nổi...

Tại Lào, trước năm 1975, diện tích trồng cây thuốc phiện vào khoảng hơn 50 ngàn hécta. Đến năm 2001, giảm còn hơn 17 ngàn hécta và nay thì cơ bản đã hết.

Còn trên đất Thái, diện tích trồng thuốc phiện không nhiều lắm bởi điều kiện thổ nhưỡng ở Chiang Rai không phù hợp. Tuy nhiên, Thái Lan lại là nơi trung chuyển lớn nhất vào những năm từ năm 1960 đến 1990. Sản lượng thuốc phiện sản xuất được tại khu Tam Giác Vàng là bao nhiêu? Chưa bao giờ có con số tạm gọi là chính xác, đặc biệt là vào thập niên 60-70 của thế kỷ trước.

Cảnh sát Thái Lan kiểm tra xe từ Myanmar sang.

Cảnh sát Thái Lan kiểm tra xe từ Myanmar sang.

Sau này, khi mà Afghanistan, Iran và Pakistan cũng trồng thuốc phiện tại khu vực giáp ranh 3 nước có cái tên rất chi là thơ mộng “Lưỡi Liềm Vàng” thì Ấn Độ đã trở thành “cầu nối” giữa Tam Giác Vàng và Lưỡi Liềm Vàng. Nếu như ở thập niên 80, lượng ma túy sản xuất tại khu vực Tam Giác Vàng đáp ứng 3/4 nhu cầu tiêu thụ trên thế giới, thì từ khi có Lưỡi Liềm Vàng sản lượng bị giảm đáng kể cho đến lúc Khun Sa tan rã, sản lượng chỉ còn hơn một nửa so với trước.

Năm 1996, là năm mà khu Tam Giác Vàng “đạt đỉnh cao” về sản lượng thuốc phiện là 2.560 tấn và để có được 1kg heroin mang nhãn hiệu con sư tử, cần 10kg thuốc phiện và một số hóa chất thì số thuốc phiện trên đã “cô” lại được 250 tấn heroin.

Và cũng trong năm 1989, đã có khoảng... 100 tấn heroin được tuồn vào nước Mỹ. Con số này khiến Chính phủ Mỹ “phát rồ” và Cơ quan Bài trừ ma túy Mỹ (DEA) coi Khun Sa là kẻ thù nguy hiểm số 1, phát lệnh truy nã toàn cầu đồng thời treo giải 2 triệu USD cho ai “lấy được đầu” của hắn.

Từ năm 1990, Chính phủ Myanmar đã áp dụng nhiều sách lược để làm tan rã quân đội Mông Tai của Khun Sa và Moh Heng. Vừa tấn công quân  sự kết hợp với chính sách chia để trị, đến năm 1995 thì liên minh Khun-Moh tan rã. Thế cùng, lực kiệt, cuối cùng Khun Sa phải đầu hàng chính phủ. Và từ đó việc trồng thuốc phiện, cần sa và chế biến heroin, các loại ma túy tổng hợp tại Tam Giác Vàng đã bị suy giảm.

Hiện nay, trên lãnh thổ Myanmar , tại khu vực Tam Giác Vàng, vẫn còn trồng thuốc phiện và chế biến các loại ma túy. Tuy nhiên sản lượng chỉ còn khoảng dưới 300 tấn một năm. Chính phủ Myanmar , Thái Lan và Lào đang nỗ lực giúp nhân dân vùng Tam Giác Vàng phát triển kinh tế. Trong đó có việc phát triển trồng cây công nghiệp.

Người đàn bà trên mảnh đất Tam Giác Vàng.

Người đàn bà trên mảnh đất Tam Giác Vàng.

Nhìn ngắm chán chê mảnh đất bồi được gọi là Tam Giác Vàng từ trên đồi Sop Ruak, tôi nảy ra ý định là được “đặt chân lên Tam Giác Vàng”. Kha suy nghĩ hồi lâu rồi dẫn tôi xuống bờ sông và nói chuyện với một tốp cảnh sát Thái. Nghe Kha nói xong ý định, một cảnh sát Thái phẩy tay: “Anh có muốn chết không? Lính Myanmar sẽ nổ súng ngay mà không cần bắn cảnh cáo”.

Nhưng rồi chả hiểu Kha thuyết phục ra sao, cuối cùng anh ta gật đầu và bảo: “Tùy các anh, nhưng phải nhìn tôi trên này nhé. Nếu tôi vẫy tay là phải chuồn ngay. Giờ lính Myanmar đang ăn cơm”. Nói xong anh ta lấy ống nhòm ra nhìn sang phía Myanmar.

Thế là tôi và Kha vội chạy xuống bến, thuê một chiếc xuồng máy với giá cho quãng sông chỉ rộng không đến 500m là 1.000 bạt. Bắt tôi mặc áo phao cẩn thận, rồi anh lái xuồng mở máy. Chiếc xuồng lao vun vút đi như tên và chỉ chưa đầy một phút đã lao lên Tam Giác Vàng. Tôi nhảy lên bãi mà thấy trong lòng có cảm giác khó tả.

Chao ôi, mảnh đất được gọi là Tam Giác Vàng trên bản đồ địa lý là đây ư? Nào có khác gì bãi bồi sông Hồng đâu. Cũng đất pha cát mịn màng và trên đó trồng toàn lạc. Cả “Tam Giác Vàng” lúc này chỉ có 3 người. Tôi, Kha và một người phụ nữ Myanmar đang ngồi gục đầu trên bãi cát. Còn người lái xuồng thì đã cho xuồng lùi ra, để có bề gì thì còn dễ chạy.

Một mảnh đất bồi nằm giữa sông sẽ chẳng là cái gì nhưng vì nó được gọi là “Tam Giác Vàng” cho nên trở thành nổi tiếng và người Thái đã tận dụng triệt để thương hiệu “Tam Giác Vàng” để kiếm tiền. Một chiếc áo phông Thái có in bản đồ khu ngã ba biên giới và dòng chữ Tam Giác Vàng có giá đắt gần gấp đôi chiếc áo cùng loại nhưng in  nhãn hiệu khác.

Và điều đáng nể hơn nữa là chiếc áo, hay mũ, ô có in chữ Tam Giác Vàng đó chỉ có bán trên đồi Sop Ruak, còn dưới chân đồi tuyệt nhiên không có. Thế mới biết họ giữ gìn thương hiệu nghiêm và chặt chẽ như thế nào.

Đang định lấy túi nylon ra bốc ít cát ở cái nơi được gọi là Tam Giác Vàng chính cống này về làm kỷ niệm thì Kha vội kéo tay tôi... Trên chòi canh anh cảnh sát đang vẫy tay rối rít. Chúng tôi vội lao ra xuồng... và vẫn còn kịp nhìn thấy những bóng lính Myanmar từ trên bờ chạy ra...

(Còn nữa)

N.N.P.

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.