Sự thật về trầm hương và kỳ nam

Trước những tin đồn liên tục về việc trúng đậm trầm hương, kỳ nam, bán được hàng chục tỷ đồng, PGS Đinh Xuân Bá (nguyên giảng viên ĐH Bách Khoa, Chủ tịch HĐQT Công ty SECOIN) khẳng định: Trầm, kỳ không giá trị như mọi người vẫn tưởng tượng.

Phó giáo sư (PGS) Đinh Xuân Bá là người nghiên cứu rất kỹ về trầm hương, kỳ nam. Ông là người đã và đang triển khai nghiên cứu hàng loạt đề tài khoa học về trầm, kỳ cấp Nhà nước. Ông cũng là người đi tiên phong trong việc trồng cây dó bầu lấy trầm và hiện tại ông đang phát triển trang trại rộng hàng trăm hécta, toàn giống cây dó bầu cho chất lượng trầm tốt ở Hương Sơn (Hà Tĩnh).

Trầm hương là gì?

Những nhà nghiên cứu, sản xuất trầm, kỳ ở nước ngoài thì không lạ gì cái tên Đinh Xuân Bá. Ông rất ít xuất hiện trước báo giới, vả lại hầu như ông chỉ làm việc với giới hiểu biết về trầm, kỳ ở nước ngoài mà thôi.

Ông là người Việt Nam đầu tiên lập trang web giới thiệu về trầm, kỳ và những sáng chế của ông trong việc chiết xuất, sử dụng loại hương liệu quý này từ khi Việt Nam còn chưa có Internet. Trang web của ông được lập ở nước ngoài và toàn bộ thông tin đều bằng tiếng Anh, vì thế, người nước ngoài biết về ông nhiều hơn người Việt Nam cũng dễ hiểu.

Những cuộc hội thảo lớn về trầm, kỳ trên thế giới người ta đều mời ông với tư cách nhà khoa học, và ông cũng đã được đến hầu hết những nơi sản xuất, nghiên cứu, chế biến trầm, kỳ cũng như những thị trường tiêu thụ lớn nên không gì có thể phủ nhận khả năng và sự hiểu biết sâu sắc của vị PGS này về trầm, kỳ.

Trong căn phòng nhỏ, bừa bộn những loại máy móc chiết xuất, chế biến trầm, kỳ, rất nhiều khúc gỗ có chứa tinh dầu trầm bày biện trên mặt tủ, cùng vô vàn chai lọ chứa tinh dầu trầm. Ngôi nhà 59 Hàng Chuối, Hà Nội, lúc nào cũng thoảng mùi trầm.

PGS Đinh Xuân Bá tỏ ra bức xúc khi rất nhiều báo chí liên tục viết về trầm, kỳ, kể cả dẫn lời phát biểu của những nhà khoa học, song đều thiếu chính xác, cảm tính, nghe theo lời đồn của cả trong nước và trên các trang web quốc tế.

Một khối trầm hương bày bán ở Thái Lan.

Một khối trầm hương bày bán ở Thái Lan.

Theo ông Bá, trầm, kỳ không có giá trị “khủng khiếp” và tác dụng huyền bí như một số báo chí vẫn nêu. Sau khi dự hội thảo quốc tế về trầm hương ở Thụy Sĩ, ông đã quyết định lên tiếng khẳng định giá trị thực của trầm hương để người dân cả nước được biết, cảnh giác trước các trò lừa đảo của giới buôn bán trầm, kỳ.

Theo PGS Đinh Xuân Bá, có tới 28 loài thuộc chi Aquilaria có thể cho trầm. Những loài này có mặt ở 15 nước trên thế giới. Riêng Việt Nam có 6 loài. Aquilaria Crassna là loài quý nhất trong nhóm, chỉ có mặt ở 4 nước, trong đó Việt Nam có nhiều nhất và quý nhất. Sở dĩ loài Crassna quý nhất là vì nó sản sinh ra trầm tốt, mà người đời vẫn gọi bằng cái tên khác là kỳ nam.

Những loại cây dó bầu cho trầm, kỳ mọc tập trung ở những vùng núi hướng ra phía có gió biển, do vậy trầm xuất hiện nhiều ở Đông Trường Sơn hơn là Tây Trường Sơn. Trầm, kỳ là sản vật của vùng Bình Trị Thiên, Phú Yên, Khánh Hòa, Lâm Đồng và đảo Phú Quốc cũng có.

Hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng trầm, kỳ hình thành bởi cây dó tiết ra nhựa nhằm tiêu diệt côn trùng và các loại nấm để bảo vệ vết thương. Quá trình này diễn ra rất chậm, từ 50 năm đến hàng thế kỷ. Một số ý kiến khác thì cho rằng, do thân cây dó bị bọng, loài ong, kiến làm tổ ở đó, tha mật về ăn. Hương mật ngấm vào thịt cây dó lâu ngày rồi hòa trộn với nhựa cây mà kết thành trầm hương, kỳ nam.

Lại có ý kiến cho rằng, trầm kỳ là sản phẩm đặc biệt được hình thành từ lõi cây dó bầu do việc tích tụ tinh dầu. Việc cây dó tạo trầm như thế nào vẫn là điều bí hiểm, cần có quá trình nghiên cứu lâu dài để khám phá, tuy nhiên, theo PGS Đinh Xuân Bá, qua nghiên cứu tài liệu từ các nhà khoa học đầu ngành về trầm, kỳ ở nước ngoài thì nhiều khả năng trầm là một bệnh phẩm hay sản phẩm của sự nhiễm bệnh, nói cách khác, nó là sản phẩm của phản ứng tự vệ của cây chống lại sự nhiễm bệnh.

Sự hình thành trầm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: loài cây dó, thổ nhưỡng và thảm thực vật nơi cây dó sống, cây bị thương tích do sâu bọ đục lỗ hoặc do con người gây ra như khoan lỗ, cây bị nhiễm vi khuẩn, nấm mốc hoặc các loài ký sinh trên gỗ và đặc biệt là năng lực tạo ra phản ứng miễn dịch của cây dó...

Chính vì có nhiều yếu tố tác động mới khiến cây dó hình thành trầm hương trong điều kiện tự nhiên, không phải cây dó nào cũng cho trầm, kỳ mà hàng trăm, hàng ngàn cây mới có một cây cho trầm mà thôi.

Chính việc nắm được quá trình hình thành trầm, kỳ mà ở một số nước như Thái Lan, Malaysia , Ấn Độ, Nhật Bản... người ta trồng cây dó bầu rồi đục thân, tiêm vi trùng, nấm vào để tạo trầm nhanh chóng (phương pháp này được ông Bá gọi là kích cảm).

Thậm chí, các nhà khoa học Nhật Bản tại Trường đại học Kyoto đã dùng Methyl Jasmonate và Jasmonic acid (chất giúp tăng cường năng lực tự vệ của cây) tác động lên các tế bào của cây dó theo phương pháp nuôi cấy treo có thể tạo ra các chất chính của trầm hương chỉ trong vòng 7 ngày.

Theo những người chuyên “ngậm ngải tìm trầm” thì giả thuyết về khả năng tự vệ của cây dó sinh ra trầm sát với thực tế hơn cả. Bởi vì, kinh nghiệm đi rừng tìm trầm cho thấy, những cây dó bầu nào cao 30-50m, lá đã vàng và nhỏ dần, thân cây có nhiều u bướu như những tổ kiến hoặc gốc có gò mối đóng thì cây dó đó có thể cho trầm hoặc kỳ. Khi gặp những cây dó như thế thì phải hạ cây, trốc cả rễ và xả nát ra tìm vì trầm có thể kết ở rễ, gốc, thân, thậm chí ở tận ngọn cây.

Cũng theo những người tìm trầm, thời gian gần đây dễ kiếm được trầm hơn trước kia vì trong thời gian chiến tranh, những mảnh bom đạn đã ghim vào thân cây dó và trong quá trình kích thích dài tới vài chục năm, đến nay cây dó đã cho nhựa trầm.

Qua đây cũng xin giải thích để bạn đọc hiểu nội dung của từ “ngậm ngải tìm trầm” mà báo chí cũng như giới tìm kiếm, buôn bán trầm hương thường dùng.

Cây dó là loài thường mọc trong rừng sâu, núi cao, những nơi hiểm trở và xen lẫn với những loài cây khác nên rất khó tìm. Hơn nữa, hàng trăm, hàng ngàn cây dó mới có một cây cho trầm nên người ta phải luồn rừng hết ngày này tháng khác trong rừng để tìm kiếm.

Quá trình đi rừng dài ngày như thế, lương thực mang theo không thể đáp ứng được nhu cầu, nên khi hết lương thực, người đi rừng phải đào củ ngải, một loại riềng dại, có vị thơm dịu để ngậm, làm cho ruột đỡ cồn cào trong quá trình tìm đường về.

Vì cuộc hành trình dài ngày, vất vả nên khi trở về, người tìm trầm thường hốc hác, râu tóc xồm xoàm, quần áo rách mướp, trông chẳng khác gì người rừng, nên người đời thường tưởng tượng ra cảnh ngậm ngải tìm trầm lâu ngày sẽ biến thành người rừng. Cụm từ “ngậm ngải tìm trầm” chỉ sự vất vả, nhọc nhằn của những người đi khai thác trầm trong rừng sâu.

Quá trình tìm trầm cũng được huyễn hoặc hóa và được giới tìm trầm rất tin. Người ta tin rằng, chỉ có người sống lương thiện thì mới gặp được Thiên Y Ana, là hóa thân của trầm, kỳ. Chính vì vậy, trước khi xuất hành vào rừng, người ta phải ăn chay 3 ngày, tránh chung đụng với đàn bà, xuất hành vào ngày đẹp, giờ đẹp và trong quá trình đi rừng không được có ý nghĩ ám muội, gây gổ, đánh nhau...

Khi tìm thấy cây dó bầu có biểu hiện cho trầm thì phải nhịn đói để giữ mình tinh khiết, tìm đến suối tắm rửa sạch sẽ rồi cúng vái thần rừng để tạ ơn trước khi đốn hạ cây dó bầu tìm trầm.--PageBreak--

Công dụng của trầm, kỳ

Theo PGS Đinh Xuân Bá, mặc dù trầm, kỳ rất quý, có nhiều công dụng, song mỗi nước dùng một kiểu. Ở ta, gỗ có nhựa trầm, kỳ được dùng để làm tượng, các sản phẩm trang trí, chế tác đồ trang sức, làm vòng cho các vị sư vừa gõ mõ tụng kinh vừa lần tràng hạt. Trầm hương được người Việt Nam sử dụng rất nhiều để làm nhang đốt cho có mùi thơm.

Hiện tại, công ty của ông Bá sản xuất khá nhiều loại hương làm từ trầm và chủ yếu cung cấp cho thị trường nước ngoài. Pháp là thị trường tiêu thụ chủ yếu các loại nhang trầm do ông làm ra. Chỉ cần đốt một nén nhang, căn phòng thoảng mùi rất dễ chịu.

Các thầy thuốc dân gian ở nước ta thường dùng trầm hương chế thuốc chữa những bệnh không có gì đặc biệt như: bổ dương, bổ thận, lợi tiêu hóa, trị tiêu chảy, chống nôn mửa, hen suyễn, đau bụng, giảm đau, trấn tĩnh, hạ sốt, cấm khẩu, khó thở, thấp khớp, dùng cho phụ nữ sau khi sinh...

Trong một số tài liệu Đông y thì kỳ nam có tác dụng lợi tiểu và điều trị một số bệnh tiêu hóa như đầy hơi, đau bụng, tiêu chảy thổ tả, trị gió, chống cảm mạo...

Một số đồng bào ở những vùng có nhiều trầm hương thường lấy gỗ trầm, kỳ sắc với nước uống hàng ngày như uống trà và loại nước này có tác dụng kháng khuẩn khá tốt.

Ở vùng cao tỉnh Khánh Hòa, đồng bào còn dùng cả cục kỳ nam bọc vào tấm vải treo ở cửa sổ để trừ tà khí. Trẻ em thì được đeo một miếng ở cổ hoặc tay và người ta xem đó như “bùa hộ mệnh”.

PGS Đinh Xuân Bá dùng trầm hương để ngâm rượu uống hàng ngày. Hễ có vị khách nào đến chơi là ông lôi cả tá bình rượu ngâm trầm hương cùng một số vị thuốc nữa ra mời. PGS Đinh Xuân Bá còn sáng chế ra một loại máy móc bé xíu để phân tán trầm hương ra không khí khiến không khí trong căn phòng rất dễ chịu.

Trong các sách Đông y còn nói cả đến tác hại của trầm, kỳ, theo đó, những phụ nữ mang thai mà uống tinh dầu trầm, kỳ sẽ bị trụy thai và những người suy nhược cơ thể, suy gan, hỏa tính mà dùng trầm, kỳ sẽ có hại cho cơ thể... 

Các nước Trung Đông dùng nhiều trầm hương hơn cả. Họ bôi dầu trầm vào người hàng ngày cho thơm. Trong các nhà thờ, những nơi diễn ra các nghi lễ trang trọng, các tấm thảm để quỳ cũng được tẩm ướp dầu trầm. Dầu trầm được dùng nhiều trong việc tẩm vào vải để... bảo quản xác chết, giữ xác chết lâu phân rã, bốc mùi.

Những công nhân làm việc trong các mỏ khai thác dầu cũng dùng trầm hương hàng ngày như phụ nữ dùng kem dưỡng da. Họ bôi dầu trầm lên khắp cơ thể để trừ khí độc trước khi vào khu vực khai thác dầu mỏ. Với người Trung Đông, trầm hương là một loại sản phẩm thông dụng và được dùng vào những việc rất thông thường.

Một vị lãnh đạo của Hiệp hội Tinh dầu - Hương liệu - Mỹ phẩm từng phát biểu trong Hội nghị về cây trầm hương dưới sự bảo trợ của Tổ chức Dự án rừng mưa nhiệt đới (Hà Lan) rằng: Một lít tinh dầu trầm hương trên thế giới có giá 50.000 USD, nếu có xuất xứ từ Việt Nam sẽ có giá cao hơn nữa, xấp xỉ 1 tỉ đồng, vì trầm hương của Việt Nam có chất lượng cao hơn tiêu chuẩn quốc tế (?!).

PGS Đinh Xuân Bá cho rằng, vị lãnh đạo trên phát biểu như thế là thiếu căn cứ, không xác thực và chẳng dựa trên cơ sở thực tế nào. 

Ở Ấn Độ, mặc dù là nơi trồng khá nhiều cây dó bầu và cũng là nước xuất khẩu trầm hương lớn nhất, song trầm hương lại không có giá trị mấy trong đời sống của họ. Trầm hương chủ yếu được dùng dưới dạng bột tán. Vào phút chót của cuộc hỏa thiêu người chết, người ta rải bột trầm vào đốm lửa cho mùi thơm tỏa lên rồi mang tro hài cốt về thờ.

Ở thị trường châu Âu, trầm  hương được dùng trong công nghệ chế tác mỹ phẩm, đặc biệt là nước hoa. Tuy nhiên, buồn ở chỗ trầm hương không phải là thứ quý nhất trong những lọ nước hoa Pháp đắt tiền mà nó chỉ là chất định hương.

Mỗi lọ nước hoa to tướng người ta nhỏ vào vài giọt trầm để giữ được mùi hương lưu lại lâu hơn khi sử dụng. Tất nhiên, vai trò định hương là không thể thiếu để lọ nước hoa có giá trị, nhưng với khả năng sử dụng chỉ vài giọt thì các nhà máy chế biến nước hoa cũng không cần nguồn nguyên liệu nhiều lắm.

Kỳ nam hầu như ít được nhắc đến ở thị trường Trung Đông và châu Âu, điều đó không có nghĩa là nó quý quá, hiếm quá, tốt quá khiến người ta không có tiền để mua mà vì người ta không có nhu cầu sử dụng nó. Hiện tại, ông Bá chỉ thấy kỳ nam được tiêu thụ ở thị trường Đài Loan và Nhật Bản và theo các đồng nghiệp của ông thì nó được dùng để chế thuốc bắc, song đó là loại thuốc gì thì ông không biết.

Tuy nhiên, có một điều mà nhiều người biết về công dụng rất thông thường của kỳ nam ở Nhật Bản. Người Nhật dùng kỳ nam ngâm rượu uống hằng ngày và gọi đó là “kỳ nam tửu” và dùng bột kỳ nam tẩm ướp nướng gà gọi là “kỳ nam kê”. Với cách thức sử dụng trong cái ăn, cái uống thường nhật thì giá trị của kỳ nam không thể thần thánh hóa lên được.

Từ những thông tin về công dụng trên đây có thể thấy giá trị của trầm, kỳ cũng chỉ... đến thế mà thôi. Những lời đồn thổi, những thông tin giật gân mà báo chí nêu với giá trị vài trăm triệu đến tiền tỉ 1 kg là thiếu chính xác, là nghe hơi nồi chõ

Phạm Ngọc Dương

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.