Tham gia Hội thảo có đông đảo lãnh đạo của các tỉnh, thành trong khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, cùng các nhà nghiên cứu, khoa học về lĩnh vực thủy điện. Điều ngạc nhiên trong Hội thảo lần này, phía Ban tổ chức có mời đại diện EVN, nhưng đơn vị này đã vắng mặt.
Tại hội thảo, Tiến sĩ Đào Trọng Hưng, thành viên Ban tư vấn VRN, nhấn mạnh: Làm dự án thủy điện là mất rừng, gây ảnh hưởng đến bảo tồn đa dạng sinh học; làm mất đất sản xuất, xói mòn, bồi lắng lòng hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thay đổi thủy văn, mất nước vùng hạ lưu, biến dạng địa mạo ven bờ sông vùng hạ lưu… Còn xây dựng các khu Tái định cư (TĐC) cho nhân dân chưa được chu đáo, thiếu đất sản xuất nghiêm trọng cho người dân bị ảnh hưởng nước sạch và vệ sinh môi trường.
Theo tính toán của ông Hưng, để làm một thủy điện khoảng 1MW điện phải mất đến 16ha rừng. Đến nay, Việt Nam có đến 119 thủy điện liên quan đến 47 khu rừng đặc dụng, mỗi khu bảo tồn của vườn quốc gia “cõng” 2,5 dự án thủy điện. Một vườn quốc gia của khu bảo tồn thiên nhiên có nhiều dự án thủy điện như: Cát Tiên có 6 dự án, Hoàng Liên có 6 dự án, khu bảo tồn Sông Tranh có 7 dự án...
Ngoài ra, ông Hưng còn nhấn mạnh, yêu cầu làm rõ trách nhiệm của các bên liên quan đến việc cho phép đầu tư thủy điện như Quốc hội, Chính phủ, các bộ, UBND các tỉnh, thành. Chủ đầu tư như EVN, các ban quản lý điện, doanh nghiệp, nhà cung cấp vốn, nhà thầu, kỹ thuật... trách nhiệm của họ vẫn chưa được làm rõ - ông Hưng nhấn mạnh.
GS.TS Vũ Trọng Hồng, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam cho biết: Sự leo thang về công suất thủy điện trước năm 1975 trên 300MW, đến năm 2010 là 9.200MW, đến năm 2020 là 17.400MW. Trong đó những thủy điện vừa và nhỏ sau năm 1995 có đến 800 dự án thủy điện. Riêng tỉnh Quảng Nam có đến 50 dự án thủy điện, 7 dự án thủy điện đầu tư trên sông Thu Bồn. Nhưng đến nay chưa có ai phê duyệt thủy điện được xây dựng bằng công nghệ bê tông đầm lăn; cũng chưa có quy chuẩn và tiêu chuẩn gì cả! Bộ Xây dựng và Bộ Công thương không trả lời được vấn đề này sau sự cố Thủy điện Sông Tranh 2. Quy chuẩn quốc gia về thủy điện đang soạn thảo, quy chuẩn quốc gia về công trình xây dựng chung đang thực hiện, nhưng không có chữ nào nói về bê tông đầm lăn...
Những tồn tại về xây dựng thủy điện ở miền Trung đã và đang xảy ra tính bất lợi của thiên nhiên, bất cập năng lực với tốc độ xây dựng quá nhanh, yếu kém về cơ sở hạ tầng dẫn đến lỗ hổng trong quản lý Trung ương và địa phương. Vì vậy, những hậu quả môi trường sống lâu dài, an toàn cho công trình đe dọa lớn và biến đổi khí hậu đang đe dọa. Đề nghị chủ đầu tư đánh giá lại sự ổn định của nền đập, thân đập, vai đập và có qui trình tích nước, xả lũ an toàn. Trong đó, sự cố vai đập là nguy hiểm nhất. Cụ thể, như hiện nay Thủy điện Sông Tranh 2 đang chảy nước ở vai đập là rất nguy hiểm nên phải nhanh chóng kiểm tra, có biện pháp khắc phục chắc chắn.
“Thủy điện Sông Tranh 2, thiết kế và áp dụng theo tiêu chuẩn của Mỹ và Nga, nhưng tiến hành xây dựng thì lại áp dụng tiêu chuẩn của Trung Quốc, xảy ra sự cố thì phải thuê chuyên gia của Trung Quốc khắc phục, điều này thật trái ngược, tiêu chuẩn một đường lại áp dụng một nẻo. Không riêng gì thủy điện Sông Tranh 2 bị rò rỉ nước mà thủy điện Sơn La cũng bị nứt, nhưng nứt là do vấn đề khác” - GS.TS Hồng khẳng định.
Chủ tịch UBND tỉnh Quảng
Tình trạng ngập lụt vùng hạ du do thủy điện xả lũ; vấn đề an toàn đập; công tác tái định cư, hậu tái định cư, nhân dân thiếu đất sản xuất, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo cao, hạ tầng tái định cư chưa tính đến yếu tố phù hợp với đời sống, phong tục và bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhiều hộ dân đã bỏ khu tái định cư, phá rừng làm nhà, làm rẫy; thủy điện chưa làm tốt chức năng điều tiết lũ, cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt vào mùa khô và gần đây nhất là sự cố rò rỉ nước tại thân đập Thủy điện Sông Tranh 2 làm cho chính quyền và nhân dân hết sức lo lắng. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngoài ra, TS. Lê Anh Tuấn, Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, nêu rõ những bài học về các rủi ro liên quan đến thủy điện trên thế giới được xây dựng theo kiểu đầm lăn: “Chẳng hạn như thống kê từ các công trình thủy điện ở Trung Quốc có đến 40% công trình thủy điện xây dựng bằng công nghệ đầm lăn không an toàn. Nên chúng ta lo ngại đến các thủy điện của chúng ta cũng bằng công nghệ đầm lăn, liệu có an toàn hay không?”.
GS.TS Cao Đình Triều, Viện Địa lý địa cầu, cho rằng nguy cơ xảy ra tai biến địa chất nhân sinh đặc thù (động đất, trượt - lở đất, nứt - sụt đất và lũ quét) tại vùng hồ và đập thủy điện Sông Tranh 2 là lớn. Do đó, cần thiết phải tiến hành nghiên cứu động đất kích thích hồ chứa lớn như hồ thủy điện Sông Tranh 2, hạn chế tối đa sự biến động nhanh của mực nước trong hồ. Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư đang sinh sống quanh khu vực lòng hồ thủy điện về động đất và tai biến địa chất liên quan là cần thiết và có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Giúp cho người dân hiểu biết về tai biến địa chất liên quan tới hồ chứa để họ có biện pháp thích hợp trong ứng phó với các loại hình tai biến này.
Nhiều đại biểu khác còn nêu ý kiến rằng, Thủy điện Sông Tranh 2 bị sự cố nhưng chủ đầu tư không tìm ra nguyên nhân trước khi khắc phục sự cố và hiện nay chưa có cơ sở nào để kết luận đập chính vẫn an toàn”. Để đảm bảo an toàn cho nhân dân, các đại biểu yêu cầu và hoàn toàn ủng hộ với lãnh đạo tỉnh Quảng Nam đưa vấn đề rò rỉ thân đập chính Thủy điện Sông Tranh 2 ra nghị trường Quốc hội