Tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIII, có một vấn đề được các đại biểu Quốc hội và cử tri đặc biệt quan tâm. Đó là Quốc hội đã công bố kết quả giám sát một số chuyên đề, trong đó có chuyên đề về giáo dục đại học, do Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng (VHGDTNTN&NĐ) của Quốc hội tổ chức giám sát. Bức tranh về giáo dục đại học đã được “lột tả” tương đối toàn diện, là một lời cảnh báo cần phải sớm có một hệ thống giải pháp kịp thời để chấn chỉnh lại những bất cập đã tồn tại quá lâu trong hệ thống giáo dục đại học (GDĐH) nước ta.
Tháng nào cũng ra đời 1 trường đại học!
GS.TSKH Đào Trọng Thi, Chủ nhiệm Ủy ban VHGDTNTN&NĐ chia sẻ với PV Báo CAND, lâu nay dư luận luôn đặt câu hỏi, vì sao trường ĐH thành lập ồ ạt và theo quy định, sau 3 năm kể từ năm 2010, các cơ sở GDĐH nếu vẫn chưa có cơ sở riêng thì phải giảm chỉ tiêu tuyển sinh, đình chỉ hoặc giải thể. Nhưng đến nay, sau nhiều đợt thanh tra, Bộ GD&ĐT vẫn chưa đưa ra danh sách các trường dự kiến phải giải thể. Kết quả giám sát cho thấy, tốc độ thành lập trường không còn quá nóng, nhưng vẫn còn cao.
Giai đoạn 2009 – 2012, tổng số cơ sở GDĐH được thành lập là 33 trường (23 công lập và 10 tư thục), bằng 10,86% so với tổng số trường được thành lập trong giai đoạn 10 năm trước đó (như vậy, trung bình tháng nào cũng có trường được thành lập – PV). Phương thức thành lập chủ yếu vẫn là nâng cấp từ bậc học thấp hơn lên bậc học cao hơn (25 trường, trong đó có 22 trường công lập và 3 trường tư thục); trong số 8 cơ sở thành lập mới, thì có 7 trường tư thục.
GS.TSKH Đào Trọng Thi còn cho biết, do chưa có sự kiên quyết trong điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường ĐH, CĐ nên tốc độ thành lập trường trong các năm 2010 và 2011 vẫn còn cao.
Mặc dù các cơ sở GDĐH được thành lập trong giai đoạn này hầu hết đã được phê duyệt chủ trương từ giai đoạn trước (không có hồ sơ mới) song nếu thực sự kiên quyết thì dù đã có chủ trương đồng ý từ trước, nhưng vẫn có thể không cho phép thành lập mới cơ sở GDĐH, nếu không phù hợp với quy hoạch, mạng lưới, cũng như định hướng phát triển.
Nhiều cơ sở GDĐH, khi lập dự án thành lập trường thì các bộ, ngành chủ quản, lãnh đạo các địa phương đưa ra rất nhiều cam kết cả về đất đai, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như các chính sách về đào tạo, phát triển đội ngũ, nhưng sau khi đi vào hoạt động, việc thực hiện các cam kết này rất hạn chế.
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho đến nay vẫn chưa đưa ra được những quy định cụ thể về công tác hậu kiểm đối với các trường sau khi thành lập. Vì vậy, nhiều cơ sở GDĐH sau nhiều năm hoạt động, nhưng diện tích đất theo quy định vẫn còn rất thấp; nhiều trường vẫn phải đi thuê cơ sở đào tạo ở nhiều địa điểm khác nhau, gây khó khăn rất lớn cho việc học tập của HSSV.
Đối tượng được miễn học phí và thụ hưởng quỹ tín dụng sinh viên vẫn bị phiền hà
Báo cáo kết quả giám sát còn cho thấy, chính sách mới về học phí đã phát huy tác dụng, góp phần tăng nguồn lực tài chính cho hoạt động bảo đảm chất lượng đào tạo, tuy nhiên việc triển khai thực hiện trên thực tế nảy sinh nhiều bất cập. Việc thay đổi hình thức miễn, giảm học phí (từ thực hiện miễn giảm trực tiếp tại cơ sở GDĐH sang thực hiện miễn, giảm trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng tại địa phương) làm cho nhiều đơn vị lúng túng trong triển khai thực hiện.
Ở nhiều địa phương, số lượng đối tượng được miễn, giảm học phí nhiều và kinh phí miễn, giảm rất lớn trong khi đội ngũ cán bộ phụ trách có hạn, dẫn đến chậm trễ trong thẩm định hồ sơ và chi trả tiền được miễn, giảm. Thủ tục, quy trình và phương thức chi trả còn phức tạp, đặc biệt là các thủ tục hành chính liên quan đến việc xác nhận đối tượng chính sách, xác nhận ngành nghề được xét cấp bù, miễn giảm học phí, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thụ hưởng.
Đến nay, sau 4 năm thực hiện chương trình cho vay đối với HS, SV đạt mục tiêu đề ra khi chưa để xảy ra trường hợp HS, SV phải bỏ học do khó khăn về tài chính. Tổng dư nợ của chương trình tính đến ngày 30/6/2012 là 35.538 tỷ đồng với gần 2,4 triệu HS, SV được vay vốn.
Mức vốn cho vay cũng đã được điều chỉnh qua các năm học (hiện tại là ở mức 1.000.000 đồng/tháng) với mức lãi suất 0,65%/tháng và thời hạn cho vay bằng thời gian đi học, cộng với thời gian trả nợ (bằng thời gian theo học). Tuy nhiên, do đối tượng thụ hưởng của chương trình cho vay đối với HSSV trải rộng khiến quy mô tín dụng tăng quá nhanh và vượt xa so với dự kiến ban đầu, trong khi khả năng huy động vốn của Ngân hàng chính sách xã hội còn hạn chế.
Không thành lập thêm trường đại học; nhiều ngành được chủ động đề xuất mức học phí
GS.TSKH Đào Trọng Thi cho biết, sau kết quả giám sát này, Ủy ban VHGDTNTNNĐ sẽ kiến nghị Chính phủ rà soát quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDĐH trong cả nước, không thành lập thêm các cơ sở GDĐH công lập ở những vùng đã có nhiều trường và các trường thuộc địa phương, nhưng ngân sách địa phương không đủ bảo đảm; ưu tiên thành lập các cơ sở GDĐH ngoài công lập có vốn đầu tư lớn; giảm chỉ tiêu tuyển sinh, đình chỉ mở ngành và đình chỉ hoạt động, sáp nhập, hạ cấp, hoặc giải thể những cơ sở GDĐH sau nhiều năm hoạt động nhưng vẫn không thực hiện cam kết thành lập trường, không hội tụ đủ năng lực, điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo.
Ủy ban còn kiến nghị Chính phủ khẩn trương sửa đổi các tiêu chí và định mức trong Quyết định 1466/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về mức ưu đãi thuế cho các cơ sở GDĐH cho sát với thực tiễn hiện nay, tạo điều kiện cho các trường phát triển. Đồng thời, điều chỉnh nới rộng trần học phí, mức chênh lệch học phí của các ngành đào tạo, để các cơ sở GDĐH công lập tự chủ quyết định mức học phí cụ thể của trường mình phù hợp với chất lượng đào tạo.
Về phía Bộ GD&ĐT, Ủy ban kiến nghị Bộ khẩn trương nghiên cứu xây dựng cơ chế thu học phí GDĐH. Đối với những ngành nghề đào tạo có khả năng xã hội hóa cao (như Kinh tế, Tài chính, Luật…) hoặc các hoạt động đào tạo cung cấp dịch vụ gắn với nhu cầu xã hội thì cơ sở GDĐH được tự xác định mức thu học phí cho phù hợp với khả năng đóng góp của xã hội, phù hợp với từng vùng, từng địa phương và từng giai đoạn, trên cơ sở tính đủ các chi phí cơ bản, cần thiết cho đào tạo và phải tương xứng với chất lượng dịch vụ đào tạo cung cấp.
Đối với những ngành nghề đào tạo không hấp dẫn (như sư phạm, nông - lâm - ngư, nghệ thuật…) thì Nhà nước sẽ đặt hàng đào tạo và cấp kinh phí trên cơ sở tính đủ chi phí đào tạo