Chỉ trong khoảng thời gian từ đầu năm 2009 đến nay, các cơ quan chức năng đã phát hiện 7 vụ nhập lậu với tổng số lượng trên 13 tấn ngà voi, tất cả tuy khác nhau về đối tượng nhập khẩu nhưng rất giống nhau về phương thức, thủ đoạn. Không còn nghi ngờ gì nữa khi khẳng định Hải Phòng chính là điểm đến của các mặt hàng ngà voi nhập lậu.
Vấn đề cốt lõi đáng để bàn trong lúc này là, liệu có thể thiết lập được một phòng tuyến vững chắc để ngăn chặn được hành vi buôn lậu nhóm hàng hóa có xuất xứ từ động vật hoang dã?
Khó khăn vì… 3 giống, 3 không
Theo Cục Hải quan Hải Phòng (HQHP), trong số 7 vụ nhập lậu ngà voi nêu trên, có 1 vụ số lượng lên đến 7 tấn do Công ty Phúc Thiên Ngân có trụ sở tại xã Tân Tiến, huyện An Dương, TP Hải Phòng đứng tên chủ lô hàng giấy vụn nhập khẩu; có 4 vụ phát hiện trong năm 2010, trong đó, chỉ riêng tháng 5/2010 phát hiện tới 3 vụ, đáng để gọi là tháng kỷ lục về phát hiện vụ việc liên quan đến ngà voi.
Quá trình xem xét lại hồ sơ 7 vụ nhập lậu ngà voi vào cảng Hải Phòng từ đầu năm 2009 đến nay, rút ra những nhận xét mang tính quy luật. Có 3 điểm giống hệt nhau về phương thức: Thứ nhất, hàng hóa thuộc diện tạm nhập bằng đường biển vào các cảng thuộc khu vực Hải Phòng, doanh nghiệp trong nước đứng tên nhận hàng, sau đó làm thủ tục chuyển khẩu sang nước thứ 3 (Trung Quốc) bằng đường bộ. Thứ hai, mỗi vụ một kiểu thủ đoạn, khác nhau về đối tượng nhưng rất giống nhau khi kê khai, làm thủ tục hải quan, đều núp dưới vỏ bọc bằng loại hàng hóa khác, rẻ tiền, phổ thông, thuế suất thấp như cá khô, mùn cưa, giấy vụn, rong biển, rau câu… Điểm giống nhau thứ ba là, khi bị các cơ quan chức năng phát hiện, khi không còn cách khác phủ nhận vai trò chủ hàng thì các doanh nghiệp trong nước chỉ có một luận điệu thống nhất "ba không": Không biết, không làm và cũng không có nhu cầu nhập khẩu ngà voi. Có vẻ như lý lẽ này chẳng khác nào lý sự cùn, nhưng trên thực tế, các cơ quan chức năng dẫu có làm rõ mười mươi đây thực chất là hành vi buôn lậu động vật hoang dã xuyên quốc gia nhưng cũng không cách nào chứng minh ai là ông chủ đích thực của nó.
Với những diễn biến như vật, đủ để nói rằng, các cơ quan chức năng thực sự rất khó khăn trong toàn bộ quy trình công tác đấu tranh từ phát hiện, kiểm tra và xử lý.
Diễn biến khó lường
Thực ra buôn lậu ngà voi có dấu hiệu nổi cộm từ cách đây 5 năm, Khi đó, việc phát hiện chỉ là ngẫu nhiên khi hải quan cửa khẩu tìm ra được những dấu hiệu bất thường của lô hàng, thái độ của chủ hàng. Tuy nhiên, do phải thực hiện cải cách thủ tục hải quan, tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp rút ngắn thời gian để thông quan nên tính hiệu quả chưa cao. Thậm chí, còn tạo những xung đột giả, ngụy tạo các yếu tố không thuận tiện cho việc kiểm hóa.
Vụ Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Đức Minh, do Nguyễn Văn Thịnh làm Giám đốc vào năm 2005 là một ví dụ. Trả giá đắt cho sự thiếu kiên trì trong kiểm tra xác suất lô hàng bằng việc 2 cán bộ hải quan thuộc Chi cục Hải quan cửa khẩu KV II (Cục HQHP) đã bị truy tố trước pháp luật.
Kể từ đó, công tác đấu tranh ngăn chặn hành vi buôn lậu động vật hoang dã nói chung và ngà voi nói riêng được cơ quan hải quan tiến hành bài bản hơn, với nhiều tình huống, phương án phức tạp mang đầy yếu tố nghiệp vụ. Chẳng hạn đã rút ra được quy luật mặt hàng này thường có xuất xứ từ châu Phi, cứ lô hàng nào có đặc điểm như thế thì được đặt vào "tầm ngắm". Nhưng chỉ ít lâu sau, nhận định này đã không còn phù hợp, vì đối tượng đã chuyển hướng.
Thực tế là các vụ gần đây, đối tượng đã biết cách "xóa dấu vết" xuất xứ bằng cách chuyển hàng đi ký gửi ở các nước, vùng lãnh thổ thuộc châu Á như Malaysia, Philippines, Hong Kong để lấy vận đơn trước khi cập vào cảng Hải Phòng. Nhận định thứ hai là hàng hóa thuộc diện rẻ tiền, thuế suất thấp, không có yếu tố "nhạy cảm" đủ điều kiện được xếp vào "luồng xanh" có tỷ lệ kiểm tra thực tế thấp hoặc miễn kiểm tra như cá khô, rong biển, rau câu, giấy vụn… Nhưng cũng có vụ phát hiện được khi hàng hóa kê khai có giá trị thương mại cao như gỗ xẻ đóng kiện.
Như vậy, xuất xứ, chủng loại hàng hóa dù là biện pháp cần thiết nhưng chưa phải là tất cả. Nhận định nữa là các ngà voi nhập lậu chủ yếu lọt từ phương thức khai hàng tạm nhập tái xuất. Nhưng không thể tất cả các lô hàng thuộc diện này đều phải chịu kiểm tra đặc biệt khi biết rằng, lượng hàng tạm nhập tái xuất qua cảng Hải Phòng ngày càng tăng lên đột biến, ước tính chiếm trên 50% so với tổng lượng, tương ứng với hàng nghìn container mỗi ngày, vậy lấy đâu ra người để kiểm tra?
Nhận định cuối cùng là cung đường chuyển tải sang nước thứ 3 thường là Móng Cái (Quảng Ninh) cũng chưa hẳn chính xác. Có nhiều dấu hiệu cho thấy đối tượng đã chuyển hướng. Nhất là 2 vụ mới phát hiện trong tháng 5/2010, điểm tái xuất hàng lại là cửa khẩu Hữu nghị Lạng Sơn chứ không phải Móng Cái nữa.
Thiếu phương tiện hỗ trợ
Khi đặt câu hỏi này với Cục HQHP, lãnh đạo của Cục đã thẳng thắn thừa nhận là rất khó khăn, chỉ có thể tập trung, cố gắng hết mức có thể.
Ông Vũ Hoàng Dương, Đội trưởng Kiểm soát - Cục HQHP cho biết, lực lượng quá mỏng nhưng phải dàn ra chống buôn lậu hàng hóa thông thường chứ không riêng gì ngà voi, động vật hoang dã. Các Chi cục thì phần lớn nhân lực phải tập trung vào chuỗi quy trình nghiệp vụ phục vụ thu thuế hải quan, dốc sức để đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm phiền hà, tạo sự thông thoáng cho doanh nghiệp, đẩy nhanh tốc độ thông quan. Trong khi đó, phương tiện hỗ trợ đắc lực cho công tác kiểm soát hải quan là máy soi container, đến nay vẫn chưa được trang bị. Quyết định thắng lợi hay không trong công tác đấu tranh chống buôn lậu nói chung là thu thập các nguồn tin, kể cả thông tin từ nước ngoài. Song, lấy gì để phân tích, đánh giá tính xác thực của thông tin thì rất khó khăn. Do đó, công tác thẩm định các nguồn tin, quan sát các dấu hiệu khả nghi thường chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân là chính.
Công an TP Hải Phòng cũng có cùng quan điểm trên, đấu tranh trước loại tội phạm này rất gian nan. Khởi tố một vụ án là căn cứ vào tính chất nghiêm trọng, sự thiệt hại, ảnh hưởng, tác động do nó gây ra. Song không truy cứu được bị can vì rất khó chứng minh doanh nghiệp đứng tên nhận hàng có ý chí, chủ mưu thực hiện hành vi buôn lậu.
Công an Hải Phòng cho rằng, chưa khởi tố được bị can không có nghĩa là không thể khởi tố. Vấn đề là cần phải có thời gian, cần có những điều kiện quan trọng khác, nhất là sự hợp tác quốc tế về điều tra các hành vi buôn lậu nói chung và động vật hoang dã nói riêng. Nhưng đây là việc lớn lao, ngoài khả năng của Công an cấp TP, cũng như Hải quan cấp Cục. Nhưng sao ngà voi chủ yếu chỉ cập vào cảng Hải Phòng rồi tái xuất sang Trung Quốc bằng đường bộ qua các cửa khẩu biên giới?
Vấn đề này ông Vũ Hoàng Dương đưa ra nhận xét: Ngà voi là mặt hàng siêu lợi nhuận, dù biết rất rõ điểm đến của chúng là Trung Quốc, song nếu nhập khẩu bằng đường biển vào cảng chính tại Trung Quốc chắc chắn hàng hóa sẽ phải qua máy soi tia tử ngoại nên rất dễ bị phát hiện. Nếu tạm nhập vào các cảng TP HCM, Đà Nẵng rất bất lợi. Một là hành trình chuyển khẩu rất xa từ 1.000-1.800km nếu bằng đường bộ, chi phí rất lớn, độ "an toàn" không cao. Nếu phải chuyển tải bằng đường biển thì phải cập cảng Trung Quốc, lại phải qua máy soi. Vì thế, chỉ vào cảng Hải Phòng rồi chuyển tải thẳng tới cửa khẩu (không có máy soi ngay cả cửa khẩu tại Trung Quốc) là con đường ngắn nhất, an toàn nhất.
Mỗi cặp ngà khi trót lọt được tiêu thụ có giá không dưới 50.000 USD, tương đương khoảng 900 triệu đồng. Tỷ suất lợi nhuận từ buôn lậu ngà voi theo dự đoán nghiệp vụ có thể từ 300-500%. Như vậy, buôn lậu ngà voi, động vật hoang dã từ nước ngoài vào cảng Hải Phòng chắc chắn vẫn tiếp còn diễn, vẫn là thách thức lớn đối với các cơ quan chức năng kiểm soát cửa khẩu...
Trước mắt, chỉ có thể hạn chế được phần nào các hành vi buôn lậu nếu như HQHP được trang bị máy soi container. Không hiểu sao, vấn đề này đã được bàn thảo chuẩn bị cách đây hơn 5 năm, nhưng giờ đây vẫn chưa có câu trả lời chính thức