Phùng Khắc Bắc – vẫn còn vẻ đẹp một chấm xanh

Nhà thơ Phùng Khắc Bắc lìa xa cõi thế năm 1990, ở tuổi 46. Sinh thời, Phùng Khắc Bắc là một cây bút cần mẫn thuộc về bóng tối. Không khó khăn gì để mường tượng, ông gục đầu trước trang giấy và viết giữa câm nín, giữa khắc khoải, giữa xót xa. 

Cũng may, những câu chữ trĩu nặng ấy được vợ ông - bà giáo Nguyễn Thị Minh Tuất gìn giữ cẩn thận đến ngày công chúng ồ lên ngạc nhiên, lần lượt chứng kiến NXB Quân đội nhân dân ấn hành tập thơ Một chấm xanh vào năm 1991, tập truyện Chiều xuân nắng hanh vào năm 1995 và tiểu thuyết Đời thường vào năm 2001. 

Nếu đếm số trang hoặc số đầu sách thì văn xuôi nhiều hơn thơ, lẽ ra phải gọi Phùng Khắc Bắc là nhà văn mới đúng chứ? Phùng Khắc Bắc luôn đứng ngoài danh vọng, bất cứ sự xưng tụng nào đối với ông cũng mang chút khiếm nhã. 

Từ ngày giải ngũ với quân hàm đại úy để chuyển sang làm Phó Văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam cho đến lúc bị thúc thủ dương gian vì căn bệnh nhiễm trùng máu, Phùng Khắc Bắc chưa bao giờ ham hố chen lấn chốn thị phi. 

Ông cầm bút như món nợ ân nghĩa phải trả cho đồng đội, như món nợ trăn trở phải trả cho chính mình, như tâm niệm “mừng thay, vẫn còn nguyên những giọt nước mắt trong lòng”.

Vẻ đẹp người quá cố dễ làm độc giả hôm nay xao động nhưng không thể không thành thật, 6 truyện ngắn của tập Chiều xuân nắng hanh chỉ đáng khen ngợi vào thời điểm xuất hiện, bởi cấu trúc cũng như tình huống khá đơn giản và mang nhiều tính luận đề của một trào lưu văn học. 

Sở dĩ, vẫn phải nhắc đến Chiều xuân nắng hanh vì những mốc thời gian 1985, 1986, 1987 ghi dưới mỗi truyện ngắn có thể giúp người đọc phác thảo hành trình sáng tạo của Phùng Khắc Bắc. 

Cuốn tiểu thuyết Đời thường viết ở Đồ Sơn tháng 10-1987 và hoàn thành tháng 12-1987. Trong khi đó, tập thơ Một chấm xanh chủ yếu viết vào 2 năm 1984, 1985. 

Như vậy, toàn bộ sự nghiệp của Phùng Khắc Bắc được thực hiện trong 4 năm, từ 1984 đến 1987, cũng chính là giai đoạn cả xã hội Việt Nam cựa quậy để thoát khỏi cảnh tù túng nghèo nàn và lạc hậu! Hay nói cách khác, phẩm chất người lính của Phùng Khắc Bắc đã lặn ngụp từng ngày với nhân dân cặm cụi, để cùng đất nước thức tỉnh!

Cuốn tiểu thuyết Đời thường mang nhiều yếu tố tự sự về một người lính kiêu dũng trong chiến tranh lại thua thiệt trong hòa bình. Nhiều niềm đắng đót và nhiều nỗi nghẹn ngào của nhân vật Thân để lại dư vị sâu lắng cho độc giả, đều khởi nguồn từ những ý thơ mà Phùng Khắc Bắc đã viết. 

Ví dụ, phút xao xác “căn nhà và chiếc quan tài chỉ khác nhau ở cái cửa” trong chương 14 của Đời thường, có nhiều nét tương đồng với bài thơ Những ngôi nhà đứng nghiêng trong Một chấm xanh

Ngoài ra, trong chương 16 của Đời thường có sự chiêm nghiệm “Để dành một trái táo là làm cô quả một đời sống. Những nếp nhăn trên khuôn mặt bà già còn nói được một lời đẹp. Những nếp nhăn trên da quả táo làm lòng xót xa. Phải cắn vào quả táo để xem chiếc hạt có giống như tưởng tượng. Vị chua đến trước. Vị chua không làm thất vọng. Vị chua bao giờ cũng kích thích mạnh mẽ, song phẳng hơn vị ngọt... 

Vị chua mạnh mẽ như tiếng thét, như nhát chém, như sự bừng lên sau tiếng tách của công tắc điện, như tiếng nổ của nguyên tử. Vị chua mang sự ngọt ngào. Có một thời ở rừng, lúc đói lấy rau rừng thay cơm. Người ta nhắc nhau: “Phàm những lá có vị chua đều ăn được cả”. Thì ra vị chua còn là lương thiện, yên ổn, lành lặn...” hoàn toàn như một phiên bản của bài thơ Trái táo trong Một chấm xanh.  

Hai dẫn chứng ấy có thể xác minh tập thơ Một chấm xanh chất chứa tất cả những ngổn ngang đổ vỡ, những âu lo khổ hạnh, những đau đớn hướng thiện của Phùng Khắc Bắc!

Tập thơ Một chấm xanh được những đồng nghiệp nhiệt huyết biên soạn dựa trên bản thảo dang dở của Phùng Khắc Bắc, nên nhiều bài thơ có tên gọi và nội dung không mấy hài hòa. 

Dẫu vậy, Một chấm xanh vẫn tỏa ra một miền suy tư lộng lẫy cho giới mộ điệu thi ca, một miền suy tư hồi vọng chầm chậm “người lính nằm im/ nghe âm thanh chiến tranh trong người mình cất giọng/ trong đêm hòa bình đầu tiên”. Ngoảnh lại khoảng trời vừa giã từ vũ khí, không dễ chọn được góc nhìn hợp lý.

Phùng Khắc Bắc không chọn góc nhìn làm nên lịch sử, cũng không chọn góc nhìn chịu đựng lịch sử. 

Phùng Khắc Bắc chọn góc nhìn gánh vác lịch sử: “Không có trái bom nào rơi trúng mái nhà mẹ/ Không có viên đạn nào bắn thủng mái nhà mẹ/ Chỉ có đứa con trai đi xa/ Chỉ có sự chờ đợi nặng nề giọt xuống/ Đã xuyên thủng mái nhà thành những lỗ to, lỗ nhỏ khác nhau.../ Mẹ vẫn nói đời mình như nắng trận mưa cơn/ Mái rạ của mẹ cũng không thủng lỗ chỗ/ Nếu con chỉ ra đồng, ra chợ/ Chứ không phải đi vào chiến tranh”.

Bước qua thử thách khói lửa đã khó, mà bước qua bề bộn đời thường còn khó hơn. Phùng Khắc Bắc dằn vặt từng ngày sống. 

Nhiều khi Phùng Khắc Bắc an ủi mình bằng tâm trạng ông lão bơm xe bên lề đường trông thấy đôi trai gái đèo nhau lướt qua sôi nổi, rằng “ta đã làm nên sắc đẹp của cả hai đứa hôm nay”, nhưng vẫn luôn thảng thốt cho người chậm chân bẽ bàng, cho kẻ yếu lòng bơ vơ: “Tất cả nỗi cô đơn trong ngày lạc/ Tất cả nỗi cô đơn trong cơn hồng thủy/ Tất cả nỗi cô đơn sau trận bom nguyên tử/ Tất cả nỗi cô đơn trên con tàu vũ trụ/ Không bằng nỗi cô đơn sau lời mời của người con gái đẹp bán hàng trong chợ Đồng Xuân”.

Thơ Phùng Khắc Bắc như một sự tự vấn miên man. Sự tự vấn co giật chữ nghĩa, sự tự vấn rướm máu chữ nghĩa. 

Sự tự vấn hình thành hai nhánh chiêm nghiệm: chiêm nghiệm về nhân cách chân thật: “Hãy tha thứ cho anh/ Chỉ một lần thôi/ Một lần cho anh được nói/ Để em hiểu anh cũng là con người trong những con người” và chiêm nghiệm về tương quan sống chết “Những cây nhang đầu đen, nhọn/ Lửa đom đóm không thắp lại được mùi thơm/ Ta đi giữa sự công bằng ở tầng dưới/ Và sự bất công bằng ở tầng trên”. 

Chính những ý nghĩ rối bời kiến tạo thơ Phùng Khắc Bắc, cho nên ngay trên văn bản thi ca của Phùng Khắc Bắc vẫn tồn tại khá nhiều câu kết nối thô sơ các ý nghĩ rời rạc. 

Đọc Một chấm xanh kỹ lưỡng, thấy cộm lên dăm bảy tứ thơ chưa được chưng cất qua men nồng ngôn ngữ. 

Chẳng hạn, nếu linh hoạt trong cách biểu đạt thì chắc chắn có được một bài thơ hay từ đoản khúc giàu trắc ẩn: “Trong đời nghèo và trong chiến tranh/ Con người vẫn tìm ra một lối rất chật/ Để chui qua/ Có người rất thật thà/ Sung sướng mừng vui về điều đó/ Và quên đi một điều/ Ta đã bị thu mình rất nhỏ”.

Phùng Khắc Bắc mạnh về suy tưởng mà không mạnh về chất thơ, dẫu bên cạnh những trầm ngâm sốt ruột “Biển không bằng một nhánh suối, một dòng sông/ Bởi biển không hề cạn, vì chỉ nhận, mà chẳng cho ai dòng chảy” thỉnh thoảng cũng thấp thoáng tài hoa lãng đãng “Em đi/ Anh nhớ/ Anh nhìn cây/ Lá bay/ Mà không nhận ra màu của gió”. 

Bất kỳ độc giả nhạy bén nào liệt kê được hàng loạt khuyết điểm khô cứng trong Một chấm xanh, thì cũng không thể nào phủ nhận Phùng Khắc Bắc có bài thơ Ra đi đáng được truyền tụng. Chẳng có gì đắn đo để khẳng định, mười khúc u hoài và day dứt của Ra đi cũng đủ làm nên giá trị một tập thơ vững vàng. 

Dắt người đọc vào bối cảnh “Cái thời sẵn lòng tin và dễ đồng lòng/ Cái thời dễ nghe, hay khen/ Cái thời quen nghĩ theo một chiều xuôi như chiều nước chảy/ Vì vậy mà bài thơ tìm ra cái chết/ Lại được người nghe rưng rưng”, Phùng Khắc Bắc bày ra một trận liên hoàn xốn xang với không gian nghiệt ngã, khoảnh khắc bịn rịn và con người ngậm ngùi. 

Độc giả vừa bị bủa vây bởi tráng ca bi hùng “Chiến tranh - tan những gia đình/ Chiến tranh - gắn chặt xã hội”, lại bị chới với bởi thân phận mỏng manh “Mười lần táo chín/ Mười lần cau già/ Mười lần nước mắt mẹ rụng vào vạt áo lại thấm khô/ Và rồi cũng vào một mùa đông nào đó/ Táo chín chia hết cho trẻ nhỏ láng giềng/ Cau già nhường cho những lứa đôi may mắn/ Lúc đó nước mắt mẹ rụng đầy mặt con”, rồi bị giăng lưới bởi ám tượng mới mẻ: “Núi Thái Sơn rất cao nhưng vẫn là một chiều cao/ Con không được lấy chiều cao ấy mà đo công lao của cha/ Nếu dùng chiếc cân, nếu dùng cây thước, để làm rõ ra tình yêu thì đó là điều tàn nhẫn của con người/ Hãy lương thiện hơn trong việc này, nếu con không bao giờ nghĩ về cha như người đời đang nghĩ”

Và chân dung tác giả hiện ra theo từng tích tắc mịt mù vắng vẻ: “Đi làm đảng viên/ Đi làm liệt sĩ/ Tất cả đều không thành/ Chỉ là thương binh/ Thương binh không vết sứt ngoài da/ Thương binh có những vết rách trong phổi/ Được hàn lại bằng kháng sinh và tình đồng đội.../ Chỉ có bộ óc là không hề sây sứt gì/ Bộ óc thêm những vết nhăn hằn sâu...”.

Chính nhờ Phùng Khắc Bắc tin rằng “Không có cái gì chết đi trong bộ óc/ Chỉ có những điều tạm quên/ Lách vào vô thức/ Sẽ có ngày được khơi lên”, nên ông chỉ cần dùng một đốm lửa ưu phiền đã thắp sáng được một vùng cảm xúc xa thẳm. 

Bốn cái nhìn bồn chồn từ bài thơ Ra đi khơi gợi phía độc giả những run rẩy mãnh liệt. 

Cái nhìn của người cha, nghiêm nghị mà soi thấu: “Cha tôi vắng mặt/ Người đã tiễn tôi bằng cái nhìn như vuốt vào đôi mắt/ Đó là lúc người khuyên tôi vào đại học, mà tôi quyết ra đi”. 

Cái nhìn của bà nội, trìu mến mà luân lạc: “Bà nội ngồi nơi cửa bếp/ Cái nhìn và cái gật đầu của bà là lời vĩnh biệt/ Bà chết, sẽ vắng mặt tôi”. 

Cái nhìn của người mẹ, bao dung mà ái ngại: “Mẹ không bước ra ngoài ngưỡng cổng/ Chỉ có ánh mắt mẹ là vượt qua cả cái đích đi của con/ Khúc lưng cong của con đường làm cho con ngoái lại/ Và cái nhìn lệch hướng với đích đang đi”

Cái nhìn của người yêu, buồn thương mà ân cần: “Em vắng/ Nhưng cái nhìn của em vọng từ xa lặng/ Để chỉ mình anh được ngắm em nhiều”.

Bốn cái nhìn không phải nhãn quang thu thủy, sao cứ nôn nao chợt vụt vạt nắng phân ly tê tái, sao cứ xao xác chợt òa cơn mưa hạnh ngộ mòn mỏi. Với bốn cái nhìn, Phùng Khắc Bắc đã phát huy sức mạnh đặc thù thi ca để dựng lên một tác phẩm rúng động về chiến tranh. 

Điều này, hội họa không làm được, âm nhạc không làm được, sân khấu không làm được và cả điện ảnh vốn là một thế lực nghệ thuật huy động nhiều kỹ xảo, cũng không làm được. 

Mỗi cái nhìn gần giống như một bức tranh, gần giống như một bài ca, gần giống như một tình huống kịch trường, gần giống như một cảnh phim, nhưng mỗi cái nhìn được khép mở bởi bức màn chữ nghĩa mà người thưởng thức phải tự vén lên bằng tâm tư cá nhân.

Bốn cái nhìn tinh tế thực sự làm nên bài thơ Ra đi, bài thơ Ra đi thực sự làm nên tập thơ Một chấm xanh, tập thơ Một chấm xanh thực sự làm nên nhà thơ Phùng Khắc Bắc. 

Thế nhưng, nếu độc giả không phải tìm Một chấm xanh để chia sẻ với một nhà thơ đổ bóng lên khóc cười chiến tranh, thì có thể phần nào hài lòng về một thi sĩ Phùng Khắc Bắc luôn xô lệch giữa hai thái cực vừa nổi loạn vừa gìn giữ, có khi não nùng “ta muốn một triệu trái bom nguyên tử nổ nhanh, nổ ngay” vẫn đắm đuối và ngạo nghễ: “Chẳng có đỉnh núi nào cao hơn chóp vú người yêu/ Tôi chưa thấy ngôi sao nào cao hơn trán tôi”!

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.