1. Trời không còn mưa nhưng cái lạnh vẫn ngọt sắt, tái tê. PGS.TSKH Vũ Đình Hoà gỡ kính ra rồi nói rằng, nếu bỏ kính thì anh không còn nhìn thấy tôi nữa. Hôm nay tôi mới biết chiếc kính anh đeo dày tới hơn 10 đi ốp, còn suốt những năm tuổi thơ (từ lớp 1) dù bị cận nặng, anh không hề có kính. Gia đình anh có tám anh chị em, bố mẹ chỉ là xã viên hợp tác, làm công nhân thuộc da, cuộc sống quá vất vả khiến bố mẹ anh chỉ còn nghĩ được là lo đủ cơm cho tám đứa con là họ hết phận sự, họ không còn sức để xem các con học hành thế nào. Vậy là đến năm lớp 7, lớp 8, các chị gái, em trai của anh lần lượt bỏ học đi làm, lấy tiền giúp bố mẹ.
Sinh trưởng trong gia đình nghèo khó, cậu bé Vũ Đình Hoà lúc nào cũng nơm nớp lo lắng một ngày nào đó, mình sẽ phải bỏ học. Dù bé mọn, gầy guộc nhưng Hoà luôn sợ mình là gánh nặng của bố mẹ. Vì thế cậu cứ giấu mình, ẩn mình đi, sống lặng lẽ, không dám đòi hỏi, phiền lụy đến bố mẹ, anh chị em trong nhà. Cận nặng vậy, nhưng Hoà chưa bao giờ than phiền. Cho mãi đến năm lớp 7, tức là gần 7 năm đi học với trạng thái mắt lúc nào cũng như có màn sương mỏng phía trước, thì thầy Tôn Thân, thầy giáo chủ nhiệm của anh phát hiện anh cận quá nặng, thầy đã đưa Hoà về nhà nói với bố mẹ một cách riết róng. Và lúc đó, bố mới đưa Hoà đi khám mắt, mua kính. Chiếc kính đầu tiên Hoà đeo đã dày đến 7 đi ốp.
So với nhiều bạn trong lớp chuyên toán của trường Trưng Vương, Hà Nội, Vũ Đình Hoà là người thiệt thòi, vất vả nhất vì nhà nghèo, sức khỏe của Hoà lại rất kém. Anh kể với tôi, năm anh chuẩn bị đi thi toán quốc tế năm 1974 thì anh bị suy nhược thần kinh nặng, phần vì học quá nhiều, nhưng cơ bản vì cơ thể suy nhược từ nhỏ do ăn uống thiếu thốn. Thêm nữa, cũng trong thời gian này gia đình anh nhận được tin anh trai của anh là Vũ Đình Đức đã hy sinh ở chiến trường. Hoà bị sốc nặng, cơ thể càng suy nhược. Lúc nào anh cũng thấy đầu óc nặng trịch như đeo mũ sắt, cứ mở trang giấy trắng ra là anh chao đảo.
Đã nhiều lúc Hoà tuyệt vọng tự hỏi, cuộc đời mình đến đây là hết rồi sao? Còn ước mơ làm toán suốt đời, ai sẽ thay mình thực hiện? Nghĩ quanh quẩn rồi lại tự nhủ, không thể bỏ cuộc, không thể dừng bước, mình phải đi tiếp con đường đã vạch. Rồi bằng ý chí và nghị lực của mình, Vũ Đình Hoà đã vượt qua, có mặt trong đội tuyển toán quốc tế đầu tiên của Việt Nam và giành huy chương bạc trong niềm vui vô bờ của gia đình, thầy cô và bè bạn.
Nhắc đến những năm tháng học chuyên toán, PGS.TSKH Vũ Đình Hoà tâm sự, anh chưa bao giờ nguôi quên về những ngày tháng tuyệt đẹp đó. Nhiều lúc anh cũng không thể lý giải được vì sao anh lại thích học toán đến như vậy. Bố mẹ có lúc vì túng quẫn, gia đình có lúc không còn gì để ăn, nhưng tất cả những điều phiền muộn đó chưa bao giờ làm anh nản chí; ngược lại, ngọn lửa đam mê học hành và giải toán cứ lớn dần, cứ trỗi dậy ngày một mãnh liệt trong Vũ Đình Hoà. Anh làm toán như bị thôi miên. Cảm giác anh luôn sống một cuộc đời khác, ở đó là những phép toán mê hoặc, ở đó là những lời giải nhiều ẩn số với ánh sáng chinh phục lấp lánh đã mê dụ anh, làm anh thăng hoa, quên đi tất cả những phiền lụy của cuộc sống. Hồi đó, Hoà và các bạn cùng lớp chỉ có vỏn vẹn vài cuốn sách, nên có được cuốn sách hay nào, Hoà đọc ngấu nghiến như sợ bay mất chữ, nhiều khi anh phải trốn sau chiếc tủ gỗ mọt của gia đình để đọc, có những đêm chong đèn dầu miệt mài quá đến nỗi lửa cháy sém cả mái tóc, cũng chẳng hay.
| Có một bất ngờ thú vị là GS Ngô Bảo Châu từng là học trò của thầy giáo Vũ Đình Hoà. Anh dạy kèm Châu từ khi Châu mới học lớp 9, khi đó "vị Giáo sư trẻ tuổi nhất Việt |
Vũ Đình Hoà còn là một học sinh có trí thông minh tuyệt vời. Một thầy giáo của anh đã từng kể với tôi rằng, trong cuộc đời dạy học của ông, ông chưa có một học trò thứ hai nào như Vũ Đình Hoà. Anh quá thông minh, có những bài toán hóc búa thầy đưa ra, chỉ mình Hoà dám lên bảng viết lời giải. Và lời giải của Hoà đẹp đến nỗi thầy giáo cảm giác nó đến với Hoà nhanh như một tia chớp, Hoà phải viết gấp, viết vội nếu không sẽ tan biến. Thành thử, chữ Hoà quá xấu và anh thường giải tắt. Chỉ có thầy mới hiểu những bước toán trung gian mà Hoà không kịp trình bày trên bảng. Đến khi thầy giáo lý giải những phép toán trung gian đó của Hoà thì cả lớp mới "vỡ oà", rồi không ai bảo ai, tất cả đứng lên vỗ tay ròn rã, cổ vũ Vũ Đình Hoà. Trong hồ sơ bài tập của thầy giáo còn lưu biết bao bài giải, lời giải độc đáo, đẹp lạ lùng và rất chuẩn mực của Vũ Đình Hoà.
"Phải có trí tuệ, dù nhỏ bé, nhưng là của mình", câu nói của nhà văn Marxim Gorky có điều gì đó thật hợp với Vũ Đình Hoà. Trí tuệ non tơ thuở nhỏ được anh dày công vun đắp. Năm 1970, khi đó đang học lớp 8, Vũ Đình Hoà đã giải được bài toán được đặt ra ngót một thế kỷ nay (do Tạp chí Lượng tử của Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô đề xướng), tìm ra được nghiệm thứ 10, nghiệm lớn nhất, kết thúc một cuộc đua nhiều năm trên thế giới.
2. Như một lẽ tự nhiên, tiếng tăm và những lời giải toán "như một nghệ sỹ" của Vũ Đình Hoà lan trong các trường phổ thông chuyên. Bộ trưởng Bộ Đại học và Chuyên nghiệp khi ấy là Giáo sư Tạ Quang Bửu quyết định cho mời cậu học trò Vũ Đình Hoà lên gặp mặt. Giờ kể lại cuộc gặp của người đứng đầu ngành Giáo dục lúc bấy giờ, PGS.TSKH Vũ Đình Hoà vẫn nghẹn ngào. Lúc lên gặp Bộ trưởng, anh mặc một chiếc áo sơ mi mỏng, có vài mụn vá, Bộ trưởng nhìn anh xúc động hồi lâu rồi nói: "Trông cháu không được khỏe, cháu có bệnh gì không?". Lúc đó, tự nhiên anh muốn khóc oà lên, một chút tủi thân, xúc động cảm giác như mình là người con bé bỏng.
Thì ra nghe các thầy Trường Sư phạm nói Hoà bị viêm xoang nặng, sức khỏe rất kém nên Bộ trưởng lo lắng muốn gặp Hoà. Song vì bản tính khiêm nhường, luôn ẩn mình nên Hoà chỉ thưa: "Thưa bác, sức khỏe của cháu cũng bình thường thôi ạ". Nhưng Bộ trưởng lại hỏi: "Sao cháu xanh thế? Gia đình cháu có nhiều khó khăn lắm phải không?" - "Thưa bác, cháu xanh từ bé, nhà cháu đủ ăn, không có khó khăn gì đáng kể. Cháu không có điều gì nhờ Bộ giúp. Nhưng riêng bác, có cuốn sách toán nào vừa trình độ cháu thì bác cho cháu xin vài cuốn".
Lúc đó, mới chỉ là một học sinh lớp 10, đến gặp Bộ trưởng trong chiếc áo sơ mi có vài mụn vá, anh cố giấu đi những nghèo túng, những cam chịu của một học trò nghèo trước tấm lòng ân cần của Bộ trưởng. Làm sao anh có thể nói những khó khăn của gia đình mình, chỉ biết rằng, sau này, đôi lúc nản chí, nhớ lại lời nói đó cùng ánh mắt trìu mến của Bộ trưởng, anh lại thấy lòng náo nức, mê say.
Kỷ niệm thứ hai của Vũ Đình Hoà với Bộ trưởng cũng thật đặc biệt. Những năm 1970, thấy bạn bè rộn rã xin gia nhập quân ngũ ra trận, Vũ Đình Hoà và Nguyễn Quốc Thắng cũng chạy lên Thụy Khuê nộp đơn tuyển quân. Nhưng khi đọc tên "Vũ Đình Hoà", chú Trung tá bộ đội lập tức bảo: "Trường hợp của cậu, tôi phải lên hỏi ý kiến bác Bửu". Và ông tức tốc đạp xe đi. Chừng nửa giờ, ông quay lại, truyền đạt nguyên văn ý kiến của Bộ trưởng: "Bác Bửu không cho cậu đi bộ đội, bác bảo cậu phải ở nhà làm khoa học!".
Và lần thứ ba, sau khi đăng quang trong kỳ thi quốc tế, các bạn anh nhộn nhịp sang ĐH Tổng hợp Lômônôxôp (Liên Xô cũ) học. Hoà cũng rạo rực, phấn chấn lắm. Nhưng Bộ trưởng Tạ Quang Bửu nhẹ nhàng nói với anh: "Các cháu còn trẻ, chưa hiểu nhiều về chính trị. Mình sang Đức thi và đoạt giải, bạn bè Đức lại rất tốt, bác muốn cháu sang Đức học". Vậy là năm 1975, Vũ Đình Hoà sang CHDC Đức, học tại Trường ĐH Tổng hợp Greifswaid, chuyên ngành Toán rời rạc. Anh là một trong số những nhà khoa học đầu tiên của Việt
3. PGS.TS Vũ Đình Hoà bảo tôi, anh chưa bao giờ có ý nghĩ sẽ ở lại nước ngoài. Anh chỉ nghĩ đơn giản rằng, Nhà nước đầu tư bài bản cho mình đi học thì học xong phải về nước. Nhưng thật lạ lùng, về nước anh mới biết mình đã bị cắt biên chế từ năm 1990. Lý do duy nhất mà các cán bộ tổ chức của Viện tính toán và điều khiển (nơi công tác cũ của anh) đưa ra là, khi cậu đi thì cậu là cán bộ của Viện, nhưng giờ Viện đổi tên thành Viện Công nghệ thông tin, lại không có tên cậu. Muốn đi làm, cậu phải thi công chức, phải làm lại từ đầu. Vậy là Vũ Đình Hoà không được hưởng lương suốt 7 năm trời. Anh bức xúc, anh rơi vào tuyệt vọng. Nhưng trạng thái đó trôi qua rất nhanh, bởi sâu thẳm trong con người nhiều hoài bão và khát vọng đó vẫn là khoa học. Khoa học mới là cái đích của anh, sẽ giúp anh quên đi những vụn vặt trong cuộc sống.
Anh bảo tôi, điều làm anh đáng sợ nhất là hằng ngày anh phải chứng kiến một môi trường khoa học ảm đạm, thiếu sức sống, thiếu sự trao đổi, cả năm không có một buổi simena nào. Môi trường đó hoàn toàn xa lạ với một Vũ Đình Hoà luôn giàu ý tưởng, luôn muốn nghiên cứu, tận tâm cống hiến cho khoa học. Và năm 2002, Vũ Đình Hoà đã chuyển sang làm giảng viên ĐH Sư phạm Hà Nội. Anh bảo đây là một trong những quyết định đúng đắn của cuộc đời anh. Làm thầy giáo anh có thêm biết bao học trò giỏi, anh còn là người truyền lửa cho những học trò giỏi của mình. Anh đã trực tiếp bồi dưỡng, dẫn các đoàn đội tuyển toán quốc tế đi thi đấu nước ngoài. Nhưng anh bảo, anh chưa bao giờ nói với học trò của mình là, đi thi phải giành được bao nhiêu huy chương. Vì các em sẽ tự giác ngộ ra điều đó. Còn tôi thì thấy, ngày xưa các thầy giáo của anh đã hết lòng "chăm bẵm giấc mơ" khoa học của Vũ Đình Hoà như thế nào, thì bây giờ anh lại truyền tình yêu đó sang học trò của mình.
Anh đã từng viết rằng: "Rơi rụng ít nhiều trong cuộc đời, nhưng vẫn còn những người trong số chúng tôi làm khoa học và chắc chắn sẽ chỉ làm khoa học chứ không làm gì khác"