Buổi chiều chầm chậm trôi. Trong căn phòng làm việc nhỏ bé, nhà báo, nhà thơ Vũ Duy Thông cũng chầm chậm kể cho tôi nghe những kỷ niệm trong cuộc đời làm báo, làm quản lý báo chí của ông. Những kỷ niệm mà ông bảo là chẳng thể nào quên được, ngày nào cũng chợt "thức giấc" trong ông, dù chỉ là một khoảnh khắc nhỏ nhoi và có lúc chỉ gợi trong ông một cảm giác gì đó rất quen thuộc, rất thân thương mà khó gọi tên thành lời. Nhưng với ông, kỷ niệm về đời làm báo rốt cuộc có lẽ là vậy, nó cứ phảng phất bên cạnh không dứt được, để rồi vương lại trong lòng những dư vị thật hạnh phúc, dù nhìn lại có lúc cũng đầy sóng gió, đắng cay…
1. Còn tôi thì cứ nghĩ mãi về những câu chuyện của nhà báo Vũ Duy Thông. Thật sự nó làm tôi xúc động và bị ám ảnh, nó không chỉ mang đến cho tôi một bài báo, như vô vàn những bài báo khác, mà điều quan trọng hơn, nó mang đến cho tôi một niềm tin rằng, nghề báo dù có nghiệt ngã như thế nào thì cũng là để thể hiện tấm lòng, tình cảm và trách nhiệm của mình với xã hội, với cuộc đời. Ông bảo tôi, thời ông làm báo điều kiện khắc nghiệt vô cùng, còn chúng tôi đủ đầy, sướng hơn nhiều thì tội gì mà bi quan.
Nhắc đến đây, vùng ký ức về những ngày làm báo dưới làn mưa bom của giặc Mỹ ùa về dồn dập trong trái tim đa cảm của thi sĩ, nhà báo Vũ Duy Thông khiến ông vừa kể, vừa nghẹn giọng. Ngày đó, nhà báo Vũ Duy Thông là một chàng sinh viên Khoa văn Đại học Tổng hợp thư sinh, mê mẩn văn chương, lãng đãng mơ "dáng kiều thơm". Trong chàng sinh viên đó chưa bao giờ có hai từ "báo chí", vì lúc đó theo hình dung của các anh sinh viên Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp chỉ có hai con đường khi học xong, đó là hoặc về làm thầy giáo dạy văn cấp 3 hoặc được về Viện Văn học công tác. Nếu được về Viện Văn học, một thánh đường đối với sinh viên lúc đó là cuộc đời mãn nguyện, có chết cũng cam lòng.
Năm 1965, Vũ Duy Thông và anh em sinh viên cùng lớp về sơ tán tại Đại Từ (Thái Nguyên), có hôm nghe tin có phóng viên Báo Nhân dân về thực tế, anh và bạn học Nguyễn Ngọc Thiện (bây giờ là PGS.TS, Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam) tò mò lắm, đã bỏ học, lội ruộng tìm đến nơi xem "phóng viên", nhưng đến nơi thì "phóng viên" về mất rồi khiến cả hai anh em tiếc ngẩn ngơ. Khi đang học năm thứ tư, một buổi trưa lớp học chuẩn bị nghỉ thì có thông báo, 13 sinh viên phải ở lại lớp có việc đột xuất, trong số đó có Vũ Duy Thông. Cả lớp còn đang ngơ ngác thì một người phụ nữ bước vào, giới thiệu là cán bộ Vụ Tổ chức cán bộ của Thông tấn xã Việt
Lúc đó, chàng sinh viên Vũ Duy Thông cũng chưa hiểu TTX là cơ quan tổ chức như thế nào, mình sẽ phải làm gì? Sáng sớm hôm sau, một chiếc xe ôtô chờ sẵn mấy anh em ở Suối Đôi, đến tối mịt thì về tới Hà Nội, được bố trí ngủ trên bàn ăn của nhà ăn TTXVN và đêm hôm đó, đám sinh viên bị rệp đốt một trận tơi bời…
Cuộc đời làm báo của Vũ Duy Thông bắt đầu từ đó. Sáu tháng vừa tập luyện vừa học nghiệp vụ ở Cấn Hữu (huyện Quốc Oai - Hà Nội hiện nay), các anh được học cách viết tin. Nhưng Vũ Duy Thông vẫn ôm giấc mộng văn chương bởi với anh "nếu không thơ thì không phải là mình". Nhưng lúc đó, Mỹ bắt đầu ném bom ở Quảng Ninh, gây hấn ở Hải Phòng, một nửa lớp học được phân công vào miền Nam (sau này, có người đã hy sinh ngay khi vừa đặt chân đến chiến trường cũng là quê hương mình ở miền Nam), nửa còn lại được phân công về bám trụ các tỉnh phía Bắc để phản ánh tình hình chiến sự, trong đó có Vũ Duy Thông.
Ở Quảng Ninh, lần đầu tiên chàng trai miền trung du Vĩnh Phúc nơi quanh năm rì rào bởi những tán lá cọ xanh mướt hiền hoà đã biết thế nào là "mùi" chiến tranh. Mỹ giội bom tơi bời xuống các mỏ than Hà Lầm, Hà Tu, Cọc 6, Đèo Nai. Vũ Duy Thông có nhiệm vụ đưa tin về những nơi giặc Mỹ giội bom. Đúng là "sống - chết" chỉ trong gang tấc nhưng trong những khoảnh khắc ác liệt của chiến tranh, người cán bộ trẻ của TTXVN vẫn rung lên những tiếng tơ lòng: "Ngọn đèn lò? Ấm áp và thầm lặng? Đưa ta về với than? Ánh xanh mềm lá trúc/ Ánh đỏ màu lửa bếp? Đưa ta vào cuộc đời… Cầm ngọn đèn ta đi/ Có trăng tròn mỗi tối/ Anh yêu em vất vả không biết nói thành lời…" (trích từ bài thơ "Ngọn đèn lò", sau này bài thơ đã đoạt giải ba cuộc thi thơ do Báo Văn nghệ tổ chức năm 1969).
Chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ co dần, thực ra là tập trung đánh phá điên cuồng bằng máy bay và tàu chiến vào vùng Khu 4 cũ, tin chiến sự của phương Tây thường gọi là vùng "cán xoong", gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và huyện Vĩnh Linh. Phóng viên trẻ Vũ Duy Thông lại được điều vào Hà Tĩnh chủ yếu làm tin để tố cáo tội ác của Mỹ. Nhưng ngày đó, phải phát tin về Hà Nội bằng tín hiệu mooc. Điện của máy phát điện quay tay. Có khi ngồi trên bùn lầy, trong bụi cây để đánh tin về. Đánh xong phải thu dọn đồ nghề ngay lập tức vì nhỡ Mỹ phát hiện được tọa độ sẽ ném bom xối xả.
Có thể nói, đây là những năm tháng lăn lộn gian khổ nhất của một phóng viên chiến trường. Ông không sợ chết, không sợ gian khổ nhưng sợ nhất là phải chứng kiến những cái chết oan nghiệt của đồng bào. Đến giờ nó vẫn ám ảnh ông, vẫn thường xuyên trở lại trong những giấc ngủ trằn trọc, khiến ông không thể nào nguôi được. Có những làng quê ở xã Đức Trường (Hà Tĩnh), Mỹ ném bom giết chết gần hết làng. Nhận được tin, Vũ Duy Thông lấy xe đạp hối hả đạp dưới bom đạn ngút trời, đến nơi thì tối mịt cả làng quê hoang tàn, không một sự sống, không một tiếng khóc. Xác người, xác động vật chết ngổn ngang, có những bàn chân lìa khỏi xác chỉ được đậy bằng tấm lá kè (một loại lá cọ). Lại có những hàng ăn ở Ký Anh, mấy chục người đang ăn thì hứng trọn một quả bom của Mỹ. Có những gia đình làm nhà dưới bụi tre, bom giội xuống đâm xuyên qua thân tre cắm vào nhà… Tất cả những tội ác đó của Mỹ khó có trang viết nào tả xiết, nó đã khiến nhà báo Vũ Duy Thông nhiều lần vừa viết tin vừa đau đớn ứa nước mắt…
Giờ kể lại cho tôi nghe những kỷ niệm "khắc nghiệt" của một thời làm báo chiến trường, nhà báo Vũ Duy Thông tâm sự, chính thực tế chiến trường đã giúp ông bắt đầu ý thức về nghề viết. Câu chữ có sức nặng rất riêng của nó. Nhưng cũng phải thận trọng, tỉnh táo, không thể để cảm xúc chi phối, phải biết tiết chế. “Tôi đã từng viết bài báo "Những chiếc kẹo của chiến tranh". Bài báo không được dùng, còn bị phê bình là viết như vậy sẽ làm nhụt ý chí chiến đấu. Một bài học thấm thía".
2. Suốt từ năm 1967 đến năm 1995, nhà báo Vũ Duy Thông đã viết hàng ngàn tin bài. Từ một phóng viên chiến trường, ông lần lượt được phân công làm biên tập viên, phó phòng, ủy viên biên tập Bản tin trong nước của TTXVN. Ông từng là Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ dù chỉ trong một thời gian ngắn. Năm 1996, ông được điều về làm Vụ phó Vụ Báo chí - Xuất bản của Ban Tư tưởng Văn hoá TW. Năm 1997, ông được đề bạt làm Vụ trưởng Vụ Báo chí - Xuất bản. Năm 2003, nhà báo Vũ Duy Thông được phong chức danh Phó Giáo sư chuyên ngành Văn học. Nhà báo Vũ Duy Thông còn giữ chức Phó Tổng biên tập website Đảng Cộng sản mãi đến năm 2009.
Hiện giờ, trên danh nghĩa tuy được về nghỉ, ông vẫn đảm đương một khối lượng công việc khá đồ sộ liên quan đến báo chí như nghiên cứu khoa học, dạy học và hằng tuần vẫn "canh" nhiều chuyên mục cho các báo Công an nhân dân, Hà Nội Mới, Tài nguyên - Môi trường, Kinh tế đô thị, Điện tử ĐCSVN,… với hàng trăm bài viết sắc sảo, dí dỏm, quyết liệt, đầy tính chiến đấu về những vấn đề bất cập ngổn ngang trong đời sống. Ông đã xuất bản gần 50 đầu sách, truyện ký, lý luận phê bình, trong đó có 4 cuốn tác phẩm báo chí và hiện còn mấy trăm bài từng in trên Công nghiệp Việt Nam, Nông thôn ngày nay, Gia đình xã hội, Văn nghệ Công an, Đà Nẵng, Văn nghệ…
Gói gọn lại thì chỉ có vậy, nhưng nghe tâm sự mới thấy năng lực, ý chí nghị lực và một tinh thần lạc quan vô cùng ở nhà báo Vũ Duy Thông. Trong nhiều thời điểm, người khác ở vào hoàn cảnh của ông có khi đã qụy ngã, vì mất niềm tin vào cuộc đời, nhất là khi xung quanh lúc nào cũng có người chỉ trực chờ để ghen ghét, đố kỵ, thậm chí "hãm hại". Nhân tình thế thái là vậy. Nhưng thật tuyệt vời, xung quanh ông lúc nào cũng có người tốt giúp đỡ, bảo vệ ông, âu đó cũng là "nhân quả" của một cuộc đời ân tình, đầy đặn, sẵn lòng giúp đỡ mọi người, không bao giờ hại ai, cũng chẳng giận ai; một cuộc đời sống giản dị, coi trọng nghĩa bạn bè, hào sảng, trong công việc thì tận tình, chu đáo nhưng cũng đầy tinh tế, đầy sự quyết liệt.
Thời ông làm Vụ trưởng Vụ Báo chí - Xuất bản, như ông quan niệm là "đi trên dây", có quá nhiều sức ép, làm thế nào để anh em viết báo vẫn đảm bảo tính chính trị mà vẫn sống được bằng nghề? Đó là điều ông suy nghĩ hằng ngày. Có nhiều bài báo "nhạy cảm", ông hiểu anh em có ý tốt cả thôi, nhưng đăng ở thời điểm đó có thể chưa hợp lý, làm thế nào để cấp trên hiểu? Đó cũng là điều ông phải đấu trí với chính mình. Vậy mà ông "gỡ" được cả. Ông luôn quan niệm, mình phải tử tế thì mới mong nhận được sự tử tế, bởi có tử tế hay không trước hết là ở mình.
Trò chuyện về nghề, ông nói: “Hãy quan niệm báo chí là một bộ phận của xã hội, nên có tờ báo tốt, có tờ báo chưa tốt, cũng là hợp quy luật. Phải tin cậy ở báo chí, nhưng cũng đừng thần thánh hoá báo chí, phải nhìn ra những thiếu sót của báo chí để khắc phục".
Cũng theo nhà báo Vũ Duy Thông, báo chí có công là chính, không có báo chí làm sao chúng ta có một đời sống dân chủ, cởi mở như hôm nay. Nhưng trong ông có rất nhiều băn khoăn. Khi tôi hỏi, ông suy nghĩ như thế nào về phương thức đào tạo nhà báo của chúng ta hôm nay, thì nhà báo Vũ Duy Thông thẳng thắn: "Đã đến lúc phải xem là chúng ta có cần trường đào tạo báo chí hay không? Nếu có thì nên như thế nào. Biết bao nhà báo giỏi, bao Tổng biên tập giỏi, họ có học báo chí ngày nào đâu. Cái chúng ta cần là một cái phông văn hoá, một nền tảng văn hoá tổng hợp chứ không phải là những kỹ thuật nghiệp vụ chi tiết về báo chí. Ngay như dạy tin, cứ áp dụng công thức "5W" liệu còn thích hợp không? Ngoài "5W" còn là cái gì đó nữa. Khoảng cách giữa thực tế và giảng đường giờ hình như còn chênh nhau quá xa. Đâu phải cứ mua cái máy ảnh tốt, cái máy quay xịn là chúng ta có nhà báo giỏi. Mà tại sao lại không khẳng định báo chí phải có năng khiếu, đừng hy vọng lấy cần cù bù khả năng với nghề báo, cần cù bù khả năng chỉ thích hợp với một số nghề lắp ráp mà thôi"…
Kể đến đây, nhà báo Vũ Duy Thông trầm ngâm: "Bạn biết không, có lúc tôi không sợ bom giội bằng cái đói hành hạ. Đói kinh khủng, anh em cứ xanh mướt như tàu lá vì đói. Lúc đó bọn tôi chỉ có bột mỳ mọt nặn thành những cái bánh tròn như "nắp hầm" luộc lên chấm muối. Hôm nào mua được mấy cái quẩy ăn sáng là sướng lắm".
Vừa viết tin, ông còn tập viết những bài dài hơn, tương tự như phóng sự ngày nay. Bài báo đầu tiên của nhà báo Vũ Duy Thông ở vùng chiến sự Quảng Ninh viết về phong trào trồng cây phi lao chắn gió ở bãi Sa Vĩ (Trà Cổ) với tít gọi "Bức thành xanh trên cát trắng" - một bài báo mà sau này đọc lại, Vũ Duy Thông tự trào lộng "nửa văn, nửa báo, nửa tin"