Những người được Bác Hồ đặt tên: Ai còn ai mất?

Từ nhiều năm nay, hằng năm, cứ đến Ngày sinh của Bác Hồ 19/5, các cán bộ, chiến sĩ từng phục vụ Bác Hồ đều về họp mặt bên nhà sàn của Bác để ôn lại những kỷ niệm không bao giờ quên. Tám cán bộ, chiến sĩ đầu tiên được Bác Hồ đặt tên Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi nay chỉ còn ông Tạ Quang Chiến, đã 83 tuổi. Tám cán bộ, chiến sĩ sau này được Bác đặt tên trên chiến khu Việt Bắc Trung-Dũng-Đồng-Tâm-Kiên-Quyết-Cần-Kiệm, nay chỉ còn ông Lê Nhạ, đã 88 tuổi, còn lại mười bốn người đã theo Bác đi xa.

1. Tôi biết ông từ lâu, nhưng lần đầu tiên được gặp và làm việc với ông khi ông đã nghỉ hưu, cách đây cũng gần bảy năm. Khi ấy, Văn phòng Chính phủ biên soạn cuốn sách truyền thống "Văn phòng Chính phủ 56 năm xây dựng và phát triển" để phục vụ cho việc tổ chức lần đầu tiên lễ kỷ niệm Ngày truyền thống của Văn phòng Chính phủ (28/8/1945 - 28/8/2001) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh. Với tư cách là Trưởng ban Biên tập của cuốn sách, tôi được giao nhiệm vụ gặp và mời ông viết bài cho cuốn sách truyền thống này.

Ông đã có bài viết "Địa danh lịch sử của Chính phủ kháng chiến" in trong cuốn sách và đã kể cho tôi nghe chuyện Bác Hồ đặt tên Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi cho tám cán bộ, chiến sĩ phục vụ Bác trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, trong đó có ông.

Ông là Nguyễn Hữu Văn, tức Tạ Quang Chiến, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế Xã hội của Quốc hội khóa VII.

Một ngày đầu tháng 5/2008, được tin ông mệt phải vào Bệnh viện Hữu Nghị điều trị, tôi vào thăm, cũng là dịp để được hỏi thêm ông về những kỷ niệm đối với Bác Hồ, nhất là chuyện những người được Bác Hồ đặt tên năm xưa cuộc sống của họ sau này ra sao, ai còn ai mất?

Đã bước vào tuổi 83, lại đang bị bệnh, khó thở, nhưng trông ông vẫn khá khỏe mạnh và còn rất minh mẫn. Ông lại kể cho tôi nghe từng trường hợp Bác Hồ đặt tên cho cán bộ, chiến sĩ mà ông biết trong những ngày được phục vụ Bác.

2. Sau khi ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến 19/12/1946, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng, Chính phủ rời Hà Nội lên chiến khu Việt Bắc. Một số cán bộ phục vụ Bác từ những ngày đầu Chính phủ thành lập, nay cùng Bác trở lại chiến khu. Bộ phận đi cùng Bác rất gọn, chỉ có tám người, làm đủ mọi việc, từ công tác văn phòng, thư ký đến bảo vệ, liên lạc, hậu cần… phục vụ Bác.

Sau hai tháng rời Hà Nội, Bác dừng chân tại một số địa điểm thuộc các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây (nay là Hà Tây) và Phú Thọ, cùng Thường vụ Trung ương Đảng và Chính phủ trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến vừa mới bùng nổ.

Đầu tháng 3/1947, Bác tới xã Cổ Tiết, nằm bên sông Hồng, thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Sáng 6/3/1947, Bác gọi anh em đến hội ý. Tám anh em phục vụ quây quần bên Bác.

Sau khi căn dặn anh em phải tuyệt đối giữ bí mật trong mọi công việc, Bác nói, giọng trầm ấm: "Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta mới bắt đầu và còn lâu dài, gian khổ, nhưng nhất định sẽ thắng lợi. Từ hôm nay trở đi, để tỏ lòng quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn và cũng là để giữ bí mật, Bác đặt tên cho các chú là Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi".

Rồi Bác chỉ vào từng người đang quây quần bên Bác, đặt tên. Tất cả tám cán bộ, chiến sĩ phục vụ Bác, không ai bảo ai, đều sung sướng nhận tên Bác đặt cho mình.

Bác nói tiếp: "Nhiệm vụ của Bác hiện nay là cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo kháng chiến đến thắng lợi. Đó vừa là nhiệm vụ trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài. Bác đặt tên cho các chú như vậy để hàng ngày khi nhìn thấy các chú hoặc gọi tên các chú, các chú trở thành khẩu hiệu sống bên cạnh Bác, nhắc nhở Bác hoàn thành nhiệm vụ".

Người thứ nhất được Bác đặt tên Trường (Võ Trường), tên thật là Võ Chương, quê ở TP Huế, trước Cách mạng Tháng 8/1945 dạy học tại Thanh Hóa sau đó chuyển ra Hà Nội. Sau Cách mạng ông tham gia thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu rồi được điều động về bảo vệ Bác

 Khi lên tới chiến khu Việt Bắc, ông chuyển sang làm công tác tuyên huấn, bị bệnh nặng, mất năm 1949. Sau này còn có hai người được mang tên Trường, trong đó có ông Phạm Văn Nền, lái xe của Bác Hồ, mất năm 1996.

Người thứ hai tên Kỳ (Vũ Kỳ), tên thật là Vũ Long Chuẩn, tức Nguyễn Cần, quê ở Hà Đông, tham gia Cách mạng từ năm 1941, bị địch bắt giam ở nhà tù Hoả Lò, Hà Nội; năm 1945 vượt ngục, tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng 8/1945 tại Hà Nội.

Ông làm Thư ký giúp việc Bác Hồ từ 8/1945 đến năm 1949 và từ năm 1957 đến khi Bác mất. Trước khi nghỉ hưu, ông là Đại biểu Quốc hội khóa VIII, Giám đốc Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ông mất năm 2005.

Người thứ ba tên Kháng (Hoàng Hữu Kháng), quê ở Thái Bình, tên thật là Nguyễn Văn Cao, tức Lý.

Ông hoạt động Cách mạng trước năm 1945, từng bị địch bắt giam tại nhà tù Sơn La từ năm 1941, sau đó chuyển về nhà tù Chợ Chu, Thái Nguyên. Ông vượt ngục và tham gia xây dựng căn cứ địa ở chiến khu Việt Bắc, làm Hiệu phó Trường quân chính kháng Nhật.

Ông rất giỏi võ, từng là võ sư, nên được giao làm Đội trưởng Đội bảo vệ Bác. Sau này, ông là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Cảnh vệ, Bộ Công an. Ông mất năm 1994.

Người thứ tư tên Chiến (Tạ Quang Chiến), tên thật là Nguyễn Hữu Văn, tham gia cách mạng năm 1943, sau Cách mạng Tháng 8/1945 được phục vụ Bác Hồ, đến năm 1957 chuyển công tác khác.

Ông từng là Bí thư Trung ương Đoàn, Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế Xã hội của Quốc hội khóa VII, hiện ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Người thứ năm tên Nhất (Hồ Văn Nhất), dân tộc Tày, quê ở tỉnh Cao Bằng, tên thật là Hoàng Văn Phúc, bí danh Văn Lâm, là tự vệ của căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng, được bảo vệ Bác từ tháng 5/1945, khi Bác về Tân Trào, Tuyên Quang.

Sau khi ông Võ Trường chuyển sang làm công tác khác, ông Hồ Văn Nhất được gọi là Hồ Văn Trường. Như vậy ông vừa có tên là Nhất vừa có tên là Trường. Sau này ông là cán bộ Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh, mất năm 1994.

Người thay ông Hồ Văn Nhất là ông Long Văn Nhất, bí danh là Tiên Phong, nguyên là cận vệ của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được điều sang phục vụ Bác Hồ. Ông mất năm 1967.

Người thứ sáu tên Định (Võ Viết Định), tên thật là Chu Phương Vương, tức Ngọc Hà, là chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, quê ở xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, được bảo vệ Bác từ tháng 8/1945, tới tháng 5/1952 chuyển công tác về địa phương.

Sau này, có thời gian ông là Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ nhiệm Công ty Xây lắp cơ khí thuộc Khu liên hợp gang thép Thái Nguyên. Ông cũng đã mất.

Người thứ bảy được mang tên Thắng đầu tiên là ông Nguyễn Quang Chí, tức Nguyễn Văn Huy. Bảy tháng sau ngày được Bác Hồ đặt tên, ông chuyển công tác khác, nên ông Triệu Văn Cắt, tức Triệu Tiến Thọ, người dân tộc Mán, quê ở tỉnh Thái Nguyên được đặt tên thay, là Triệu Hồng Thắng.

Sau năm 1954, ông được cử làm Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Khu tự trị Việt Bắc. Ông mất năm 1975.

Người thứ tám được Bác Hồ đặt tên Lợi (Trần Lợi), tên thật là Trần Đình, dân tộc Nùng, quê ở tỉnh Cao Bằng, nguyên là chiến sĩ Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, bảo vệ Bác từ năm 1945 đến năm 1950 thì chuyển về địa phương. Ông đã mất trong kháng chiến chống Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí bảo vệ và giúp việc tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí bảo vệ và giúp việc tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp.

3. Trong những năm ở chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ còn đặt tên Trung-Dũng-Đồng-Tâm-Kiên-Quyết-Cần-Kiệm cho tám cán bộ, chiến sĩ khác phục vụ Người.

Ông Nguyễn Quốc Trung, tên thật là Nguyễn Văn Mộc; ông Nguyễn Văn Dũng, tên thật là Nguyễn Văn Dong, quê ở tỉnh Hưng Yên, cả hai đều là cán bộ Đội công tác của Trung ương xây dựng căn cứ địa Việt Bắc được điều động sang bảo vệ Bác. Sau này, khi ông Đồng nấu ăn cho Bác mất, ông Nguyễn Quốc Trung được cử thay.

Ông Nguyễn Văn Đồng, tên thật là Hoàng Văn Tý, tức Lộc, là Việt kiều được gặp Bác Hồ ở Thái Lan khi Người hoạt động tại đây, sau đó từ Thái Lan về Trung Quốc rồi về nước, là người nấu ăn phục vụ Bác từ những ngày Bác Hồ ở Cao Bằng.

Ông mất tại Khuôn Tát, xã Phú Đình, huyện Định Hóa, Thái Nguyên trong kháng chiến chống Pháp sau một cơn sốt rét ác tính.

Ông Lê Văn Tâm, tên thật là Lê Văn Chánh, quê ở Sài Gòn, là bác sĩ quân y từng hoạt động trên chiến trường Lào trước khi được cử về làm bác sĩ riêng chăm sóc sức khỏe Bác Hồ. Sau này, ông là Thầy thuốc nhân dân, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu Nghị. Ông mất năm 1989.

Ông Nguyễn Kiên tên thật là Nguyễn Văn Nga; ông Nguyễn Văn Quyết, tên thật là Nguyễn Văn Phúc, là hai chiến sĩ vệ quốc đoàn cùng được điều động một đợt về bảo vệ Bấc Hồ từ năm 1947 đến năm 1951. Sau này hai ông chuyển công tác về Bộ Nội vụ (Bộ Công an hiện nay), nay đều đã mất.

Ông Lê Văn Cần, tức Lê Văn Nhương, quê ở xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An và ông Lê Kiệm, tức Lê Nhạ, quê ở Hà Tĩnh, đều là người giỏi nghề mộc, trong kháng chiến chống Pháp được điều động về làm nhiệm vụ xây dựng nhà ở cho Bác Hồ.

Sau này, ông Cần là cần vụ của Bác, nay đã mất; còn ông Kiệm nay đã 88 tuổi, hiện sống ở quê nhà Hà Tĩnh.   

Ngoài những cán bộ, chiến sĩ được Bác Hồ đặt tên nói trên, ông Tạ Quang Chiến cho biết, còn một số trường hợp đặc biệt Bác Hồ đã đặt tên. Tất cả các trường hợp Bác Hồ đặt tên đều mang ý nghĩa sâu sắc.

Trong số bốn vị trí thức Việt kiều có tên tuổi ở Pháp theo Bác về nước sau chuyến Bác sang thăm Pháp năm 1946, Bác chỉ đặt tên cho kỹ sư Lâm Quang Lễ là Trần Đại Nghĩa, vì kỹ sư là người chế tạo nhiều loại vũ khí nổi tiếng cho quân đội ta trong kháng chiến chống Pháp, làm việc "đại nghĩa" đối với Tổ quốc.

Một trường hợp khác Bác đặt tên là khi được tin bác sĩ Tôn Thất Tùng, một trí thức lớn từ bỏ giàu sang phú quý ở Hà Nội để lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến, có con trai đầu, Bác đặt tên cho cháu là Bách - Tôn Thất Bách, hàm ý trân trọng tài năng và phẩm chất của những người trí thức yêu nước như bác sĩ Tôn Thất Tùng, những cây Tùng, cây Bách trên đời.

4. Từ nhiều năm nay, hằng năm, cứ đến Ngày sinh của Bác Hồ 19/5, các cán bộ, chiến sĩ từng phục vụ Bác Hồ đều về họp mặt bên nhà sàn của Bác để ôn lại những kỷ niệm không bao giờ quên.

Tám cán bộ, chiến sĩ đầu tiên được Bác Hồ đặt tên Trường-Kỳ-Kháng-Chiến-Nhất-Định-Thắng-Lợi nay chỉ còn ông Tạ Quang Chiến, đã 83 tuổi. Tám cán bộ, chiến sĩ sau này được Bác đặt tên trên chiến khu Việt Bắc Trung-Dũng-Đồng-Tâm-Kiên-Quyết-Cần-Kiệm, nay chỉ còn ông Lê Nhạ, đã 88 tuổi, còn lại mười bốn người đã theo Bác đi xa. 

Năm 1947, khi được Bác Hồ đặt tên thì ông Hồ Văn Nhất là người nhiều tuổi nhất, nếu còn năm nay đã 100 tuổi. Ông Tạ Quang Chiến là người trẻ nhất, lúc đó mới 22 tuổi, thì nay đã quá tuổi "xưa nay hiếm" mười ba năm! Ông vẫn minh mẫn, vẫn nhớ như in từng kỷ niệm về Bác và cho biết từ sau năm 1953 Bác Hồ không còn đặt tên cho một người nào nữa.

Kể với tôi về chuyện Bác Hồ đặt tên cho một số cán bộ, chiến sĩ trước đây, ông không giấu được bức xúc khi biết có một số người tự nhận được Bác Hồ đặt tên nhưng trong thực tế không có chuyện đó.

Những lần đọc báo, nghe đài, xem tivi thấy người này, người khác nói được Bác Hồ đặt tên là ông gọi điện thoại thẳng đến toà báo hoặc "nhà đài" để nói rằng điều ấy không đúng.

Bởi ông là người được phục vụ Bác nhiều năm, là cận vệ theo Bác từng ngày trong kháng chiến chống Pháp, "biết mặt, biết tên" từng người được Bác Hồ đặt tên

Dương Đức Quảng

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.