Nằm giữa thung lũng Cù Bai, bốn phía là những dãy núi cao quanh năm sương giăng mây phủ, có dòng Sê Băng Hiêng uốn lượn rì rào chảy ngược lên đất bạn Lào, rồi hoà vào dòng Mê Kông. Một thời bản Cù Bai, xã Hướng Lập (Hướng Hóa, Quảng Trị) được nhắc đến là chốn "rừng thiêng nước độc", nơi "khỉ ho cò gáy", bản làng có hộ đói nghèo chiếm trên 90% giờ đây chỉ còn trong chuyện kể.
Vượt chặng đường dài hơn 120km, cưỡi trên "con ngựa sắt' với những cơn xóc nảy ngả nghiêng trời đất, chúng tôi về với bản Cù Bai lúc trời vừa nhá nhem tối. Đang cùng các chiến sĩ biên phòng Trạm Cù Bai dùng bữa cơm chiều, bỗng có tiếng gọi: "Bộ đội Thắng ơi, con gái bố bị ốm, bộ đội cứu con bố với". Bỏ vội bát đũa xuống chiếu, cả 4 anh em trạm vội vã đến nhà người ốm. Sau các động tác sơ cứu ban đầu, Trung úy Lương Thế Vĩnh, Trạm trưởng cùng anh em quyết định băng rừng vượt suối cáng bệnh nhân về Đồn biên phòng 605, cách đó gần 2 giờ đồng hồ đi bộ, xin xe chuyển ra bệnh viện tỉnh. Trở về đến trạm đã quá nửa đêm, mồ hôi đầm đìa vai áo nhưng các anh vẫn cười vui.
Thượng sĩ Trần Minh Đồng tâm sự: "Kịp thời cứu được người bệnh là anh em chúng tôi thấy no rồi. Anh em chúng tôi ở đây quen với việc bất cứ lúc nào bà con cần là có mặt liền". Vừa nhâm nhi cốc nước vối, đặc sản núi rừng, vừa trò chuyện cùng chúng tôi thì nghe phía cuối bản có tiếng gọi: "Cái bộ đội ơi, điện nhà mẹ không sáng". Anh Đồng xin lỗi chúng tôi, tất bật mang dụng cụ sửa điện đi, nói với lại: "Anh em chúng tôi đa nghề lắm, sửa điện, tivi, xe máy, khám bệnh, cấy lúa... đều được tất".
Các chiến sĩ biên phòng đang giúp dân bản cấy lúa nước.
Trung tá Nguyễn Đình Lâm, Trưởng đồn biên phòng 605 tâm sự: "Những ngày đầu cắm bản, việc vận động bà con thay đổi thói quen canh tác quả thật lắm gian nan. Bà con có cái lý của mình là người Vân Kiều quen cuộc sống du canh du cư từ bao đời nay rồi, quen cái tay đào củ mài trong rừng sâu chứ không quen xuống ruộng cấy lúa. Còn nhớ cách đây mười mấy năm, 3 chiến sĩ biên phòng đồng 605 Cù Bai xẻ rừng vào tận bản Cuôi thực hiện "cùng ăn, cùng ở, cùng làm" với bà con gặp lũ phải ở lại giữa rừng 17 ngày đêm, ăn rau rừng chờ ngày nước rút. Về bản, anh em nói bà con không tin, thế là quyết định bắt tay làm. Súng khoác trên vai, tay cầm cuốc xới đất trồng lúa, ngô, rau và tăng gia chăn nuôi. Mùa đầu tiên thấy anh em thu hoạch được nhiều lúa gạo, bà con đến xin giống và học hỏi cách làm theo. Ngoài ra anh em chúng tôi tranh thủ ban đêm dạy chữ xoá mù; trích một phần tiền lương mua môtơ điện về ngăn sông Cù Bai cho bà con có nguồn điện thắp sáng và xem tivi. Từ đó bà con tin và thương anh em bộ đội như con mình".
Đến Cù Bai hôm nay, nhà nhà đều truyền nhau câu chuyện cổ tích về những người lính mang quân hàm xanh đã góp phần thay đổi diện mạo cuộc sống của bản làng heo hút nơi ngã ba biên giới này. Cụ Hồ Thị Rường, 94 tuổi, một trong những người phụ nữ Vân Kiều đầu tiên ở Cù Bai tình nguyện cầm cây cuốc san núi rừng ở điểm mốc số 0 (xã Vĩnh Ô, Vĩnh Linh) mở đường mòn Hồ Chí Minh cho biết: "Nói đến cái bộ đội từng về làm con của dân bản thì nhiều lắm, mẹ không nhớ hết, nhưng mẹ biết bộ đội nó thương dân bản mình lắm".
Trong kháng chiến chống Mỹ, Cù Bai là một trong những tọa độ đen, trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của địch. Chỉ tính sơ bộ từ tháng 10/1968 đến tháng 12/1972, giặc Mỹ đã ném xuống mảnh đất này 42.700 quả bom các loại. Bình quân mỗi người dân phải hứng chịu 250 quả bom, chưa kể các loại bom có sức sát thương nhẹ như bom lá, bom bi... và 4 lần dùng máy bay thả hàng ngàn tấn chất độc hóa học, 16 bản làng Cù Bai chỉ còn trơ lại đất trắng, hố bom chằng chịt. Thêm vào đó, đồng bào quen cuộc sống du canh, du cư; tập tục lạc hậu.
Bấy nhiêu cũng đủ vẽ nên bức tranh về cuộc sống gian nan, đói nghèo của người dân Cù Bai sau ngày đất nước thống nhất. Và đủ cho chúng tôi làm phép so sánh với những gì "tai nghe, mắt thấy" sau 35 năm ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, mở ra trang mới cho cuộc sống của đồng bào vùng cao trong chuyến về với Cù Bai lần này.
Ngôi nhà gỗ khang trang của già làng Hồ Xừng nằm ngay trung tâm bản Cù Bai. Già làng Hồ Xừng năm nay ngoài 86 tuổi đời, 40 năm tuổi Đảng, với chất giọng trầm ấm, ông chậm rãi cho biết: "Nhờ cái bộ đội dạy cách trồng lúa nước mà bây giờ gia đình bố không còn thiếu gạo như mười mấy năm trước. Hiện tại bố có 2ha lúa nước, gần 100 con trâu bò, hai ao cá và 10ha rừng bời lời, quế, trầm gió, mỗi năm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng". Ngày mưa cũng như ngày nắng, cứ sáng sớm già làng Hồ Xừng lại lăm lăm cây rựa trên tay, vai cõng bao muối lên rừng kiểm tra và cho đàn trâu bò ăn, rồi tranh thủ chăm sóc rừng cây vừa cảnh giới đường biên cột mốc. Hễ nghe tin có đoàn tìm mộ liệt sĩ nào đến vùng rừng Cù Bai là ông lại tình nguyện tham gia tìm đồng đội.
Ngôi biệt thự của già làng Hồ Thứ nằm chếch về phía cuối bản, ngự trên bình nguyên lộng gió. Đón chúng tôi nơi cầu thang, già Hồ Thứ hồ hởi: "Người Vân Kiều ở Cù Bai đánh Mỹ được thì có dư sức để san lấp hố bom, dẫn cái nước suối về trồng cây lúa làm giàu".
Bản Cù Bai có hơn 86 hộ dân đều có của ăn của để. Thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ mức thu nhập của người dân thành phố (7,5 triệu đồng/người/năm). Cả bản có 15 sinh viên đang theo học đại học, 4 cao đẳng, 100% con em trong độ tuổi được đến trường. Bản Cù Bai hai lần đón nhận danh hiệu bản văn hoá cấp tỉnh. Điện thắp sáng, đường giao thông cho xe ôtô bon bon về tận bản làng, nhà nào cũng có xe gắn máy, tivi, tủ lạnh và cả trăm triệu đồng gửi tiết kiệm ngân hàng