Tham luận của Bộ Giao thông - Vận tải tại Hội thảo khoa học “Đường Hồ Chí Minh trên biển - con đường của ý chí và sức sáng tạo Việt Nam” nêu rõ: “Những con tàu không số do Phòng Thiết kế tàu thủy thuộc Cục Cơ khí Bộ Giao thông - Vận tải thiết kế. Các cán bộ, nhân viên ngành Giao thông vận tải đã cống hiến tâm lực, xương máu và tuổi xuân của mình để xây dựng, duy trì sức chiến đấu mãnh liệt của các tuyến chi viện chiến lược, trong đó có đường Hồ Chí Minh trên biển”. Tuy nhiên, tìm được những con người trực tiếp đóng tàu không số ngày ấy tại Hải Phòng quả không đơn giản, bởi những thợ lành nghề bậc cao đuợc giao nhiệm vụ quan trọng này nếu còn sống đã ở tuổi “xưa nay hiếm”. May mắn, qua Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Hải quân, PV Báo CAND đã tìm đuợc nơi ở của hai công nhân, một người đóng tàu vỏ gỗ và người khác đóng tàu vỏ sắt cho Đoàn tàu không số trước đây.
Câu hỏi “Những con tàu ma nhỏ bé chở vũ khí của Việt cộng vượt hàng nghìn hải lý, luôn đến đúng điểm hẹn đã đi bằng cách nào” luôn ám ảnh, khiến đối phương phải kinh ngạc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Theo tài liệu công bố của Bộ Tư lệnh Hải quân, để tiếp tế cho chiến trường miền Nam, chúng ta đã mở 5 tuyến chi viện gồm: Đường bộ cho các loại xe và người vượt dải Trường Sơn vào đến Nam Trung bộ; đường ống dài hơn 1.500km, vận chuyển xăng dầu vào tận Tây Ninh (sát cửa ngõ Sài Gòn); một số hàng được bí mật vận chuyển qua hàng không dưới hình thức công khai; Việc vận chuyển “ngân” được thực hiện qua con đường vô hình là hệ thống ngân hàng các nước phương Tây. Đặc biệt, “Đường Hồ Chí Minh trên biển” - con đường bí ẩn trong suốt 14 năm (từ 1961 đến đại thắng mùa xuân năm 1975), đã đưa hàng chục nghìn chiến sĩ lực lượng đặc biệt, gần một trăm nghìn tấn vũ khí, thuốc men, lương thực tới chiến trường, mà các con đường khác không có điều kiện với tới. Đó là nét độc đáo, sáng tạo của đường lối chiến tranh nhân dân Việt
Đó là buổi sáng cuối thu, tại nhà số 246, tổ dân phố 3 Đông Chính, phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, Hải Phòng, một căn hộ cấp bốn khiêm tốn nép bên lùm cây, mộc mạc như chủ nhân. Nhóm PV chúng tôi được bác Nguyễn Văn Diễm, 82 tuổi, nguyên là Quản đốc Phân xưởng A, Xưởng Đóng tàu I Hải Phòng cùng bác gái là Phùng Thị Lược, nguyên cán bộ quân báo Trung đoàn 42, thuộc Quân khu 3 tiếp đón niềm nở. Bên ấm trà nóng, bác Diễm bồi hồi nhớ về những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngày đó, đế quốc Mỹ tập trung oanh tạc, nhằm ngăn chặn đường tiếp viện của ta đối với tiền tuyến miền Nam, trong đó chúng đánh phá ác liệt các cơ sở đóng tàu.
Nối nghiệp cha làm thợ sửa chữa và lắp máy, bác Diễm cũng đã không ít lần tham gia những chuyến vận chuyển và giao nhận tàu cảm tử trên sông. Cuối năm 1961 Xưởng đóng tàu I được Bộ Giao thông giao chỉ tiêu đóng 4 con tàu gỗ. Mặc dù không ai biết những con tàu sẽ sử dụng vào công việc gì, song bác Diễm đã linh cảm được đây là công việc hết sức quan trọng. Là đảng viên, đồng thời có tay nghề máy tàu bậc 5, bác vinh dự là một trong số rất ít người được nhận nhiệm vụ này. Việc thi công 4 tàu gỗ có những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt về kỹ thuật. Trước tiên, gỗ phải được chọn lọc loại tốt như lim, sến…, sau đó được pha chế thành tấm, hấp, sấy và tẩm hoá chất chống “hà”. Công đoạn ghép cũng đòi hỏi rất tinh vi như việc làm “sảm” (tạo rãnh tiếp giáp giữa hai tấm ván) phải bào soi khít tuyệt đối rồi dùng phoi cật tre trộn vôi “vỏ hà” với dầu “trai” chít lại, đảm bảo vừa bám chắc, chịu áp suất lớn vừa không ngấm nước. Thời gian đầu, có người thợ vỏ do sơ suất để hở một vết chít dài chỉ 1 cm đã phải luân chuyển làm nhiệm vụ khác.
Lại một yêu cầu khác mà đến nay những người thợ đóng tàu mới vỡ lẽ, đó là máy tàu phải nhập từ Nhật Bản, kiểu cách giống tàu đi khơi của ngư dân Trung và Nam bộ để chiến sĩ ta ngụy trang, giả làm nghề chài lưới che mắt địch. Trọng tải tàu ấn định 30 tấn và mướn nước chỉ 0,5m để có thể đi vào kênh, rạch giao hàng tận nơi cho các đơn vị quân giải phóng. Mặc dù không thể biết là đang đóng tàu không số, song cảm nhận đuợc nhiệm vụ quan trọng, những thợ đóng tàu lúc đó hết sức tự hào và tuyệt đối giữ gìn bí mật. Bác Diễm gái nói: “Chỉ biết ông ấy đi làm suốt ngày đến đêm mà không biết làm gì”. Trong khoảng thời gian từ 1961 đến 1972, Xưởng đóng tàu I đã đóng và bàn giao 4 con tàu gỗ. Kết quả các chuyến đi đến thành công tốt đẹp.
Tiếp tục lần theo những con người có trái tim và bàn tay “vàng” đóng tàu không số, chúng tôi tới nhà số 6 lô D38 phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Đây là nơi ở dưỡng già của hai vợ chồng bác Lê Đăng Ninh, 70 tuổi, nguyên thợ đóng tàu của Xưởng đóng tàu III (sau là Nhà máy đóng tàu Tam Bạc - nằm sát chân cầu Quay, Hải Phòng). Bác Ninh khoác áo thợ tại xưởng từ năm 1958. Sau 3 năm khoác áo bộ đội Cụ Hồ, (từ 1960 đến 1963), người lính phục viên trở về cơ quan cũ và làm Tổ trưởng Tổ ống thuộc Phân xưởng máy. Bác Ninh kể: từ quân đội về, vừa ăn Tết xong, bác cùng 2 người thợ bậc cao khác, đều là đảng viên, được lựa chọn giao nhiệm vụ mới.
Không cho tìm hiểu sâu, ban giám đốc trực tiếp quán triệt: “Đây là những con tàu đối ngoại, các đồng chí phải làm thật tốt”. Lúc này, làm việc hết súc nghiêm ngặt, không ai được biết công việc của nhau và đều làm việc dưới sự giám sát chặt chẽ của lực lượng bảo vệ, trong đó có cả nhân viên bảo vệ của bên “B”. Xưởng đóng tàu III thời gian đó đóng 10 vỏ tàu 150 tấn, bộ phận của bác Ninh thi công lắp máy 5 chiếc. Người thợ già hình dung lại, đó là những con tàu có ống khói trên cabin, nhưng lại lắp một đường ống dẫn khói xuống gầm đuôi tàu để tránh sự phát hiện của máy bay địch. Đáy tàu có 3 ngăn chứa nước, khi cần thiết còn có thể hút ra để chứa hàng. Thành vỏ có hai vách ngăn, sau này bác Ninh mới biết, đó là nơi chứa 1 tấn thuốc nổ, phòng khi gặp địch các chiến sĩ tàu không số cho huỷ tàu để giữ bí mật.
Là thợ máy bậc cao, bác Ninh biết tàu được lắp bởi cỗ máy 6NVD24 - 980 CV của CHDC Đức. Tuy nhiên, máy tàu trước khi bàn giao về xưởng để lắp ráp đã được bóc hết nhãn mác, thoáng qua ngỡ máy của Nhật. Đầu năm 1965, Xưởng đóng tàu III hoàn thành chiếc đầu tiên, bác Ninh là một trong 3 thợ chủ chốt vinh dự được lên tàu chạy thử ra Bạch Long Vĩ rồi bàn giao luôn tại một bờ đá ở đảo Dấu (Đồ Sơn). Đảm bảo nguyên tắc, mọi người không tìm hiểu những con tàu đang thi công dùng vào việc gì. Song, bác Ninh và những người thợ đã mang hết tâm huyết, tỏ rõ tinh thần trách nhiệm rất cao. “Danh tính” của những con tàu cũng được đảm bảo bí mật cho đến ngày kháng chiến thắng lợi. Bác Ninh bồi hồi: “Năm 1975, theo dõi trên phương tiện thông tin đại chúng, biết đến Đoàn tàu không số, bác cảm thấy vô cùng tự hào đã góp phần nhỏ bé vào trang huyền thoại con đường vận tải bí mật trên biển”.
| Tổ chức cầu truyền hình “Sáng mãi đường Hồ Chí Minh trên biển” Do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức nhằm kỷ niệm 50 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961 - 23/10/2011), chương trình cầu truyền hình “Sáng mãi đường Hồ Chí Minh trên biển” sẽ chính thức diễn ra vào 20h ngày 23/10 tại 3 địa điểm: Đồ Sơn (Hải Phòng), Cát Lái (TP Hồ Chí Minh) và Vàm Lũng (Cà Mau). Theo Ban tổ chức, “Sáng mãi đường Hồ Chí Minh trên biển” bao gồm 4 phần: Khởi đầu huyền thoại, Vượt sóng ra khơi, Thuyền và bến, Viết tiếp huyền thoại. Chương trình không chỉ giới thiệu đến người xem truyền hình về ý nghĩa, sứ mệnh đường Hồ Chí Minh trên biển, sự mưu trí dũng cảm, những hy sinh anh dũng của các chiến sĩ đoàn tàu không số mà còn phản ánh tình cảm giữa nhân dân các bến với thủy thủ tàu không số, tình đồng đội cũng như cuộc hội ngộ của các chiến sĩ tàu không số sau 50 năm, sự tiếp nối truyền thống cách mạng của thế hệ trẻ… Chương trình được truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 và VTV6. (N.H. - P.T.) |