Nhớ lại nạn đói năm Ất Dậu (1945)

Sáu mươi năm đã qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã vượt qua bao khó khăn để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Có ngày hôm nay, thiết tưởng chúng ta nên nhớ đến cái nạn đói năm 1945 ấy.

Tôi muốn nói đến quê tôi, làng Yên Bài (nay là xã Sơn Ninh), huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cũng như bao làng quê khác của Nghệ Tĩnh, thời Pháp thuộc, hầu như vài ba năm lại có một năm đói kém, cả huyện chết đói dăm mười người là chuyện bình thường. Nhưng chỉ ít lâu sau, gạo Thanh Hóa, gạo Nam Kỳ theo con buôn tràn về, gạo nhà giàu đổ ra bán, thị trường gạo lập tức bình ổn. Năm 1943 và vụ chiêm 1944, Nghệ Tĩnh được mùa lớn, nhưng gạo không nhiều vì một phần khá lớn diện tích cấy lúa bị nhà nước thực dân bắt chuyển sang trồng lạc (đậu phộng) để thu mua. Tuy vậy, người dân chờ có gạo Nam Kỳ chuyển ra nên chẳng ai nghĩ đến đói.

Chuyện chết đói ở một làng quê

Tháng 9/1944 (tháng 8 Giáp Thân), lụt vỡ đê La Giang (Hà Tĩnh), vỡ luôn đê sông Cả (Nghệ An). Sau lụt, gạo đã hơi cao. Đến khoảng tháng 10/1944, dân buôn đường dài từ tỉnh Thanh trở về, méo mặt vì không mua được gạo và lan truyền tin đồn: Bắc kỳ phải nhổ lúa trồng đay như Nghệ Tĩnh ta phải dành ruộng trồng lạc. Pháp - Nhật ban bố lệnh cấm vận chuyển gạo, nên Bắc kỳ và Nghệ Tĩnh có nguy cơ đói to.

Người chết đói và người chờ chết trên một đoạn đường Hà Nội năm 1945.

Người chết đói và người chờ chết trên một đoạn đường Hà Nội năm 1945.

Tháng 11/1944, giá gạo "phi nước đại". Nạn đói bắt đầu. Nhà khá giả phải ăn dè sẻn, bớt khẩu phần, độn thêm ngô, khoai, bầu, bí. Nhà nghèo phải rau cháo. Chợ búa thấy bày bán các loại đồ dùng gia đình, như nồi niêu, bát đĩa; kể cả đồ thờ cúng như lư hương, chân đèn, v.v... để lấy tiền mua gạo.

Tết Nguyên đán Ất Dậu (1945), thảm kịch đã hiện ra trước mắt. Tôi chưa thấy một cái tết nào ảm đạm như vậy trong lịch sử. Hơn 2/3 số gia đình trong làng không có bánh chưng, thịt mỡ, trong đó nhiều nhà không có cả cơm ăn. Làng xóm tiêu điều. Sau tết vài ba ngày, trong làng bắt đầu có người chết đói. Giá gạo lên nhanh, chưa quá nửa phiên chợ không còn một hạt gạo nào để bán. Các cửa hàng gạo, ngô ở thị trấn, thị xã và cả ở thành phố Vinh, nhất loạt đóng cửa, vì không có cái để bán. Người mua gạo chỉ trông chờ vào những bơ gạo lẻ của một số gia đình bớt ăn, bán để mua đồ đạc, ruộng vườn của một số người nghèo, hoặc gạo, thóc của một số nhà giàu bán để lấy tiền tậu ruộng.

Giá gạo từ 25 đồng (đồng bạc Đông Dương) một tạ khởi điểm, đến đầu tháng Giêng, Ất Dậu đã lên tới 600 đồng. Nhà cửa, ruộng vườn, v.v... tụt giá nhanh chóng. Bán 1 sào ruộng chỉ mua được vài chục kilôgam gạo. Rau màu ăn sạch; lợn gà, ngan ngỗng không còn bóng dáng, vì không có gì để nuôi. Trâu, bò bán cả con với giá quá rẻ, người ta mổ thịt ăn thay cơm.

Gia đình tôi, trung nông lớp trên, trước đây tuy có độn ngô khoai, nhưng ngày 3 bữa ăn no, thì tháng Giêng năm Ất Dậu, bữa sáng phải định suất một tô cháo loãng, trưa một bát cơm, tối cũng chỉ một bát cơm. Đến bữa ăn, mẹ tôi phải bí mật đưa vào buồng kín để chia, sau đó ai ăn cũng phải bí mật. Hễ động bát đũa là những người đói ùa vào, vừa xin, vừa cướp. Cảnh người chết đói bắt đầu diễn ra.

Người chết đói càng về sau càng nhiều. Những người còn sống tìm mọi thứ có thể ăn được để ăn cắp. Bản thân tôi cũng vậy. Trước hết là món “lớ” (ngoài Bắc gọi là hạt thóc lửng), những hạt thóc lép, mầm hạt bị teo lại trong vỏ trấu, được sàng sảy ra để cho vào bếp lò, hay quẳng cho gà, vịt nhặt. Lúc này người ta đem rang vàng, giã nhỏ, cho thêm vài hạt muối để làm món ăn. Cũng có thơm mùi gạo rang, nhưng quá nhiều bột trấu “xi lích”, nên rất khó nuốt. Một thìa “lớ” vào miệng lại phải chiêu vài ngụm nước mới nuốt trôi. Được cái no lâu vì khó tiêu. Nhưng đấy là món của những gia đình trung nông lúc đó mới có. Còn bần nông, cố nông thì dường như chỉ ăn rau và củ chuối. Họ ăn đến cả những cây giống mới trồng như: dây khoai lang, mầm cây dong riềng. Cứ có được những thức đó là băm nhỏ nấu lên. Nhà nào còn chút ít gạo, cám thì cho vào một nắm. Gọi đó là cháo rau thì quá sang, gọi là canh rau cũng chẳng phải. Món củ chuối lẫn thân cây băm nhỏ, luộc thay nước vài lần cho đỡ chát, thêm nhúm muối trở thành bữa ăn chính. Một số người lên rừng chặt cây “khủa”, bóc vỏ, băm rồi giã nhỏ, chắt lấy nước, đun cô lại, thành một thứ hồ loãng sền sệt, cho thêm nắm bột khoai, tấm, cám... làm thành bánh, ăn thay cơm. Thân cây đu đủ băm nhỏ, luộc chín, thêm nhúm  muối cũng trở thành món nộm ăn trừ bữa.

Rồi đến món củ nâu. Củ nâu là một dạng củ ở trên rừng, bổ ra như củ khoai mỡ, màu nâu, lắm nhựa, chát thắt cuống họng thường được giã nhỏ ngâm nước nhuộm vải, hoặc xảm thuyền. Để ăn được, sau khi giã, người ta đem ngâm ở ao hồ cho đến khi có mùi thum thủm, vớt lên luộc bỏ nước 5 đến 6  lần, sau đó cho vào chõ, thêm nắm cám, nắm tấm hoặc bột “khủa” đồ lên để ăn. Khi ăn vẫn phải chiêu nước vì chát.

Khoảng giữa tháng ba, trừ trong dinh cơ nhà giàu còn nhà nông thuở ấy, không còn gia súc, gia cầm đã đành, đến rắn rết, chuột bọ, thạch sùng, ếch nhái, châu chấu, cũng sạch hết.

Đã đói cơm, đói rau lại nhạt muối. Những thứ “thực đơn” kể trên nếu có nhúm muối cũng dễ nuốt. Nhưng khốn nỗi, không hiểu sao muối cũng bị cấm, đắt hơn gạo nhiều lần. Nhiều nhà phải lấy tro bếp, nền đất nhà bếp, vốn tích lũy chất mặn trào ra trong quá trình nấu ăn, hòa nước, chắt lấy chất mặn để cho vào rau, cháo.

Người chết đói đầu tiên mà tôi được chứng kiến là ông thợ mộc láng giềng. Ông to khỏe, không bệnh tật, nhu cầu dinh dưỡng cao, nhưng nhường khẩu phần cho vợ con, nên đã phải “ra đi” vào ngày mồng 3 tết. Về sau gia đình ông còn chết thêm 3 người con nữa vì đói.--PageBreak--

Người chết đói trong vùng tăng theo cấp số nhân (khi gạo leo thang từ 800đ lên 1.000đ tiền Đông Dương một tạ). Trường hợp cái chết của anh Đào C. là một ví dụ. Hôm anh C. gần chết rồi, nhưng có ai đó cho anh uống một bát nước cơm nên tỉnh lại. Hai hôm sau mới chịu chết hẳn. Hai đứa con anh cũng chết. Gia đình ông Đậu Ch. , trong nhà có 9 người thì chết 8. Gia đình ông Phạm Viện chết cả 11 người, Phạm Ngân chết cả 9 người. Hàng chục gia đình chết tới 2/3 nhân khẩu. Nếu tính như từ 1 người trở lên có tới 50% số hộ trong làng tôi chết đói. Các làng khác cũng vậy. Những làng buôn thúng bán mẹt, làm thủ công, càng chết nhiều hơn. Trên đường đi học, ngày nào cũng thấy người chết đói giữa đường. Thân hình họ tiều tụy đến mức nhìn không biết là đàn ông hay đàn bà. Có người còn rách hết quần áo, tóp teo lại, hoặc phù thũng trương lên.

Những người chết đói ban đầu còn được bó chiếu đem chôn. Về sau không còn chiếu, bó bằng lá cọ. Cuối cùng thì chôn không có gì bọc ngoài. Ban đầu, gia đình họ hàng đi chôn, còn đào huyệt trong bãi tha ma, sau đói quá, lợi dụng các hố bốc mộ chưa lấp, vùi người chết xuống đấy. Về sau, người sống cũng đuối sức, thì người chết ở đâu thì chôn luôn ở đấy. Vệ đường, ngòi, rãnh đầy những ngôi mộ đắp điếm qua loa, mùi xú uế bao trùm làng xóm.

Cuối tháng 3 Ất Dậu, một số hoa màu sống sót nhờ công canh gác của chủ ruộng đã bắt đầu có thu hoạch non. Khoai lang củ bằng chiếc đũa, ngô trổ cờ ngậm sữa. Người ta lại nghĩ ra mấy món ăn mới, gia đình tôi cũng áp dụng. Củ khoai, rễ cám đổ vào nồi nấu chung. Để chia đều phải dùng đũa cả xéo nhuyễn, rồi đơm ra bát. Thân và lá khoai lang đương nhiên phải dành cho những bà con đói hơn (cảm giác ngon lúc đó tôi không bao giờ gặp lại dù sau này được đi nước ngoài và  đã được ăn nhiều của ngon vật lạ).

Lúa chiêm năm Ất Dậu (1945) rất tốt. Người ta nói là nhờ hơi người chết. Nhưng có lẽ vì sạch  bách chuột bọ, côn trùng. Chỉ phải cái thu hoạch quá muộn. Đầu tháng 4 âm lịch, thấy lúa chiêm đã ngậm sữa, một số người quá đói bò ra ruộng, bóc đòng lúa ăn ngấu nghiến. Có người gục chết tại ruộng. Ít lâu sau, lúa đặc sữa (chắc xanh), các nhà khá giả cũng không đợi được, gặt về, đập xong phải luộc cho lúa đặc lại rồi mới phơi hoặc rang  để thổi cơm.

Đói quá, có cơm một số người ăn no, cũng lăn ra chết...

Tôi không thống kê được số người chết đói năm 1945 trong toàn huyện, toàn tỉnh. Nhưng trong làng tôi chừng 200 nóc nhà, 800 nhân khẩu thì có gần 200 người chết đói.

Tội ác của thực dân

Ngay từ cuối năm Giáp Thân (1944), khi móng vuốt của giặc đói vừa giơ ra thì bộ máy cai trị đã làm ngơ. Người chết đói vào giữa tháng 2 đã nhiều như ngả rạ. Chính quyền vẫn bất động. Không có một sự kêu gọi cưu mang giúp đỡ nào, dù là chút ít. Còn bọn nhà giàu trong huyện, thóc chất đầy “lẫm” (kho). Cánh hàng xáo làng tôi tới hỏi mua, chúng cười khẩy: “Thóc ta để nhìn cho sướng mắt. Ruộng vườn, nhà cửa, tiền bạc... ta đã nhiều, bán để làm gì?”. Cả huyện Hương Sơn, tôi chỉ thấy một vị quan lớn về hưu (Nguyễn Khắc Niêm, bố đẻ nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện) là có suất gạo nấu cháo phát chẩn cho dân làng. Tiếc rằng vị này không giàu nên sự cứu đói của ông chẳng thấm vào đâu. Còn đại đa số bọn giàu có, đắp chăn cho thóc “nằm ngủ”, thản nhiên nhìn dân chết đói.

Rõ ràng, để dân chết đói là một tội ác của Pháp, Nhật và bọn địa chủ. Chúng đổ lỗi cho thiên tai (hạn hán và lũ lụt). Theo tư liệu chúng tôi sưu tầm được, hạn hán ở Bắc Bộ và Trung Bộ xảy ra thường xuyên, nhưng thường là diện hẹp, thiệt hại không quá lớn. Tính từ năm 1930 đến năm 1944, chỉ có năm 1932 là Nghệ An bị hạn hán nặng, toàn tỉnh chết đói gần 500 người.

Cũng tương tự, năm 1939, năm 1944 lại là năm được mùa. Sản lượng thóc tính bình quân đầu người là tính theo lý thuyết, thực tế còn thấp hơn nhiều. Mặt khác, thóc còn dành làm giống và phần lớn tập trung trong tay người giàu. Về lý thuyết cũng như thực tế, nếu toàn bộ ruộng đất Bắc Bộ và Trung Bộ được huy động để trồng lúa, cho dù có được mùa, nếu nơi nào tiêu thụ nơi ấy thì Bắc Bộ sống cầm chừng, Trung Bộ có nguy cơ chết đói. Từ năm 1942, ở Bắc Bộ, gần 1/2 diện tích ruộng Pháp và ruộng Nhật bắt phải trồng đay. Trung Bộ, tôi chỉ biết ở Nghệ Tĩnh chúng cũng bắt bỏ lúa trồng lạc. Đay và lạc (đậu phộng) đều do chúng thu mua. Như vậy sản lượng theo đầu người đã giảm đi một nửa. Ngoài ra, chúng còn từng mua thóc bắt buộc tính theo diện tích ở cả Bắc Bộ và Trung Bộ. Trong tình thế đó, lệnh cấm chở gạo từ Nam ra Bắc qua đèo Hải Vân chính là lệnh “diệt chủng”.

Tình hình ruộng đất và sản lượng thóc của nước ta
từ năm 1936 đến năm 1939

Mục                                     Nam Bộ       Trung Bộ        Bắc Bộ      Năm   

Ruộng canh tác (ha)    2.258.000       970,000       1.180.000               1939   

Sản lượng thóc (tấn)   3.035.000      1.000.000      2.200.000              1939   

Dân số (người)           4.483.000      5.656.000      8.700.000              1934   

Bình quân kg/người        677                176                253                 1939    

Sáu chục năm đã qua, có người thử hỏi, giá gạo Bắc - Nam chênh nhau hàng trăm lần, như vậy cấm thế nào được buôn lậu khi mà giao thông thủy bộ đều thông suốt. Xin thưa, không ai dám liều với thanh gươm của giặc Nhật lúc đó. Chỉ 10 kg gạo có thể nhận một nhát chém từ vai xuống, không cần xét xử. Thế là nạn đói năm 1945 diễn ra trên diện rộng, dẫn đến cái chết thảm thương của hơn 2 triệu người dân Việt Nam khốn khổ.

Nhân năm Ất Dậu (2005), tôi muốn nhắc lại chuyện chết đói năm Ất Dậu (1945) để thế hệ hôm nay hiểu về quá khứ đau thương và hiểu về một phần bản chất của thực dân đế quốc, để từ đó càng vững tin theo Đảng, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc...

Phan Khánh

Các tin khác

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.