Bà Đặng Thị Bình An, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, chuyên gia tư vấn dự án USAID GIG nhận xét: Đối với hàng hóa nhập khẩu, từ khi hàng đến cảng cho đến khi có quyết định thông quan, giải phóng hàng ra khỏi khu vực giám sát hải quan có tổng thời gian là 115 giờ. Còn đối với hàng xuất khẩu, tổng thời gian là 11 giờ. Trong đó, thời gian cơ quan hải quan tác động vào làm thủ tục thông quan hàng hóa (từ đăng ký tờ khai cho đến khi cơ quan hải quan ra quyết định ra khỏi khu vực giám sát hải quan) chiếm 28%; 72% còn lại là thời gian tác nghiệp của các cơ quan, tổ chức khác có liên quan.
Bà An cũng cho biết, qua khảo sát tác động quản lý chuyên ngành liên quan đến thông quan hàng hóa, khảo sát một số DN, cơ quan quản lý nhà nước... kết quả cho thấy, chính sách chế độ quản lý chuyên ngành hiện đang có nhiều bất cập. Đó là: Danh mục chuyên ngành XNK quá nhiều, chưa rõ ràng; nhiều mặt hàng thuộc quản lý chuyên ngành nhưng nhiều DN không biết mặt hàng này phải đi kiểm tra ở đâu, khiến DN gặp rất nhiều khó khăn; có những văn bản quản lý chuyên ngành nhưng trong văn bản đó, việc quản lý nhà nước không quy định rõ ràng. Như quy định khai báo hóa chất nhập khẩu và sản xuất trong nước đối với Thông tư 40 năm 2011 của Bộ Công Thương, trong đó quy định DN nhập khẩu các loại hóa chất phải khai báo nhưng do việc quy định không rõ nên có rất nhiều DN khi nhập khẩu một hợp chất có lẫn lộn với một chất trong diện phải khai báo (DN nhập khẩu sơn, nước rửa kính…) nên buộc phải đi khai báo, gây phiền hà cho DN; còn về việc quản lý VSATTP, hiện có đến ba bộ (Công Thương, Y tế, NN&PTNT) quản lý, giám sát nhưng cách thức kiểm tra của 3 ngành này chưa thống nhất nên đã gây khó khăn cho DN (như mặt hàng sữa); việc kiểm tra công bố hợp quy hợp chuẩn cũng có nhiều vấn đề chưa hợp lý.
Có nhiều DN nhập 1 mặt hàng của cùng 1 nhà cung cấp và đã kiểm tra, công bố hợp quy rồi, nhưng cũng với mặt hàng và cũng của nhà cung cấp đó (chỉ khác kích thước), nhưng theo quy định DN lại phải đi làm hợp quy và công bố hợp quy hợp chuẩn khác, đã làm mất nhiều thời gian của DN… Hiện nay, chỉ có Bộ Y tế có văn bản hướng dẫn là cách kiểm tra như thế nào, còn các bộ, ngành khác đưa ra danh mục nhưng không có văn bản hướng dẫn cách kiểm tra. Điều này dẫn đến những việc không bình thường. Chẳng hạn, có DN nhập về 2 chiếc cà vạt thôi cũng phải kiểm tra. Nhưng muốn kiểm tra là buộc phải cắt nhỏ ra 1 cái. Như vậy, DN chỉ nhận được 1 cà vạt và phải tốn mất thêm 2,6 triệu tiền phí.
Trong quá trình kiểm tra chất lượng Nhà nước, mặc dù danh mục nhiều và mô tả không rõ ràng, gây khó khăn cho DN nhưng việc phát hiện các vụ việc liên quan đến quản lý chất lượng hàng hóa không nhiều. “Qua thống kê kiểm tra của chúng tôi và báo cáo của các đơn vị kiểm tra mức độ vi phạm cho thấy, có những DN kiểm tra từ trước đến nay chưa phát hiện lô hàng nào vi phạm, có đơn vị chỉ vi phạm 0,3 - 1%, đây là mức rất nhỏ. Chúng tôi cho rằng, như vậy danh mục kiểm tra các mặt hàng quản lý chất lượng Nhà nước này cần xem xét lại để tạo thuận lợi cho DN làm thủ tục XNK, giảm chi phí cho DN”, bà An cho biết.
Liên quan đến các loại phí, các thủ tục giấy phép kỹ thuật đối hàng hóa XNK, có rất nhiều DN đã nêu những vướng mắc để mong được giải đáp. Ông Phạm Thanh Bình, nguyên Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Tổng cục Hải quan cho rằng, các ý kiến của DN sẽ được ghi nhận và sẽ kiến nghị với các bộ, với Chính phủ