Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh giáo sư - Viện sỹ Trần Đại Nghĩa:

Nhân cách cao cả của người trí thức theo Bác Hồ về nước kháng chiến

Một ngày cách đây hơn 15 năm, khi thực hiện đề tài Văn hóa Vĩnh Long, chúng tôi xin phép và được gặp Giáo sư - Viện sỹ Trần Đại Nghĩa tại nhà riêng trên đường Nguyễn Trọng Tuyển - TP Hồ Chí Minh (lúc đó Giáo sư còn chưa ngã bệnh, rất tỉnh táo). Khi chúng tôi hỏi, Giáo sư (GS) còn nhớ những chuyện về quê hương vùng đất “chín rồng”. Ông trầm ngâm rồi hỏi tôi: Sông Măng giờ còn trong như xưa không cháu? Nay bà con ta ở Hoà Hiệp - Tam Bình ta sống như thế nào?

GS. Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13/9/1913, tại xã Hòa Hiệp - Tam Bình - Vĩnh Long. Cha ông, Phạm Quang Mùi, một nhà nho nghèo, dạy học trò trong vùng rất có uy tín, được nhiều người hâm mộ và luôn giúp đỡ những học sinh nghèo. Khi cha mất sớm ông mới lên 6 tuổi, cùng mẹ là bà Phạm Thị Diệu và người chị gái nay phải nghỉ học, đi làm đủ thứ phụ giúp mẹ, đỡ đần cho cả nhà. 

Khi cha mất, cậu bé Lễ chỉ mới vào học bậc tiểu học, người chị ruột ông phải nghỉ học, để nhường cho ông được học tiếp. Nhà nghèo, mẹ phải tần tảo nuôi dưỡng 2 con, nên ông từ nhỏ đi học chịu đói, chịu lạnh là lẽ thường tình và tất nhiên là tự học tập vì mồ côi cha từ nhỏ.

Xong tiểu học, ông đậu học bổng lên học trung học ở Sài Gòn. Và từ một học sinh học giỏi toàn phần, khi bước chân vào Trường Fertruts Ký (nay là Trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong) ông thuộc vào loại học sinh nghèo nhất nhì của trường. Song vì tính chăm chỉ, chuyên cần, thông minh, khi bước chân vào trường là ông đã được bao thầy cô giáo tin tưởng, nhiều bạn bè cảm mến giúp đỡ ông ăn học tại Sài Gòn. Và đây, cũng là một yếu tố đã giúp cho sự hình thành nhân cách thương người nghèo, nặng nghĩa tình trong một học sinh nghèo của Phạm Quang Lễ.

Đây cũng chính là những điều ông rất mong ước, các cháu lớp trẻ ngày nay khi có đầy đủ phương tiện học tập trong cuộc đời, hãy cố học cho được vì chữ “nhân” và chữ “nghĩa” như nhiều lần ông vẫn nói chuyện mong ước lớp trẻ.

Năm 1933, Trần Đại Nghĩa thi đỗ hai bằng tú tài, song nhà nghèo, ông không thể học tiếp đại học, đành trở về TP Mỹ Tho làm một chân “thư ký quèn” để kiếm tiền giúp mẹ và chị trong cuộc sống khó khăn lúc bấy giờ. Thời gian này ông có tự học thêm về Luật học.

Hai năm sau (1935), ông Dương Văn Ngươu, một nhân sĩ, nhà báo yêu nước ở Sài Gòn, từ mến mộ tài năng và ý chí ham học, học giỏi của Phạm Quang Lễ, giúp ông thi được suất học bổng toàn phần Trường Chasseloakp Laubat - Pháp. Ông sang Pháp năm đó, đầu tiên là vào học Đại học Cầu - Đường.

Tại Paris, lúc bấy giờ hoài bão của ông được hun đúc, bằng ý chí của một trí thức yêu nước. Và ông kết luận, điều mà ông luôn nghĩ về sự thua thiệt của các cuộc nổi dậy thất bại, là đất nước ta còn quá non kém về kỹ thuật – điều mà ông tham gia về mặt khoa học cho chế tạo vũ khí trong cuộc đấu tranh vũ trang nhằm giải phóng đất nước.

Và từ những suy nghĩ đó, ông đã bỏ công vào học ngành Cầu - đường, rồi ngành Hóa học, tại Đại học Sookbors - Pháp, trường nổi tiếng thế giới. Ngành học mà ông ham thích tìm hiểu là chế tạo vũ khí, các chuyên ngành liên quan đến hóa học. Sau những năm miệt mài, học và thực hành, ông đã đỗ hạng ưu của các ngành Hóa học, chế tạo vũ khí.

Sau khi tốt nghiệp, ông làm kỹ sư chính trong một hãng chế tạo máy bay, với mức lương tương đương 22 lượng vàng/tháng vào lúc đó.

Ngày 5/7/1946, cùng với hàng vạn Việt kiều tại Pháp, kỹ sư Trần Đại Nghĩa ra sân bay Le Beurget để đón Bác và đoàn cấp cao Chính phủ ta sau Cách mạng Tháng 8 sang thăm Pháp. Từ ngày đó, do là người có sự am hiểu nhiều về các trí thức VN tại Pháp, khi Bác làm việc với bà con kiều bào, đều được kỹ sư Trần Đại Nghĩa tháp tùng, đi cùng Bác.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS-VS Trần Đại Nghĩa (thứ 2 phải qua) giới thiệu đạn cối Bazoka do công binh xưởng sản xuất trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh: Tư liệu).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS-VS Trần Đại Nghĩa (thứ 2 phải qua) giới thiệu đạn cối Bazoka do công binh xưởng sản xuất trong kháng chiến chống Pháp. (Ảnh: Tư liệu).

Suốt 2 tháng đi thăm bà con Việt kiều (từ tháng 7/1946 đến tháng 9/1946), Trần Đại Nghĩa đã báo cáo với Bác về tất cả những điều mình biết về thế giới Chiến tranh lần thứ II, đặc biệt về quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu khoa học bản thân mình. Ngày 8/9/1946, Bác Hồ gọi Trần Đại Nghĩa đến, cho biết là Hội nghị Phôngtenơblô đã không thành, rồi Bác hỏi thẳng: “Bác về nước, chú chuẩn bị về với Bác. Hai ngày nữa ta lên đường”.

Thế là từ quyết định được về Tổ quốc, Trần Đại Nghĩa cùng đoàn của Bác đã rời cảng Tulông vào giữa tháng 9/1946. Sau 40 ngày lênh đênh trên biển, Bác Hồ cùng các bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Quí Huân, kỹ sư Vũ Đình Huỳnh và kỹ sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa) về đến cảng Hải Phòng.

Sau này, GS Trần Đại Nghĩa nhớ mãi lớp chính trị Bác Hồ dạy trong 40 ngày ấy, đó là lớp chính trị đầu tiên, có tác dụng rất lớn trong đời ông. Ông kể, lúc tới cảng đêm 11/8/1946, trời tối, trên tàu còn có một mình Bác và tôi, Bác chỉ hỏi tôi có hai câu. Câu thứ nhất: “Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu nổi không?”. Tôi trả lời: “Thưa Bác, tôi chịu nổi”. Câu thứ hai Bác hỏi là: “Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có. Máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?”. Tôi nói: “Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là sẽ làm được”.

Sau khi về nước (27/10/1946), Phạm Quang Lễ lập tức được giao trực tiếp lên Thái Nguyên, nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu Bazoka của Mỹ, với hai viên đạn do GS Tạ Quang Bửu cung cấp. Phải bắt tay vào việc ngay, nhưng mới chỉ được ít hôm thì lại có điện gấp từ Bộ Quốc phòng gọi về gặp Bác.

Và ngày 5/12/1946 tại Bắc Bộ Phủ, Bác cho mời kỹ sư Phạm Quang Lễ và Người trực tiếp giao cho Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới; chính Người đã đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa - theo Bác là để giữ bí mật cho ông và cho gia đình, cho bà con ông còn ở lại trong miền Nam.

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, những phát kiến quan trọng về vũ khí, về kỹ thuật của kỹ sư Trần Đại Nghĩa trong điều kiện thiếu thốn nhiều thứ, đã chế tạo thành công các loại lựu đạn, súng phóng lựu, súng cối 50,8 li, mìn phá xe, Bazoka... kịp thời phục vụ cho cuộc chống trả 9 tuần lễ của thực dân Pháp ngay tại Thủ đô Hà Nội.

Một phát kiến mới rất có lợi ích lớn cho cuộc kháng chiến - mà chính Viện sĩ kể lại - sau khi nghiên cứu, thấy tại khu rừng Việt Bắc, có nhiều phân dơi, và Trần Đại Nghĩa đã chỉ đạo lấy diêm tiêu trong phân dơi khu rừng đóng quân, để làm thuốc súng. Ông còn dùng đường ray xe lửa loại cũ làm nòng súng cối 50,8 li, rồi lấy bình ôxy làm nòng súng 205 li…

Đặc biệt, sau bao nhiêu lần thất bại, Trần Đại Nghĩa đã chế tạo thành công súng Bazoka trên cơ sở thiết kế lại toàn bộ quả đạn Bazoka của Mỹ cho phù hợp điều kiện tác chiến chiến trường Việt Nam. Tác dụng lớn là súng Bazoka và súng không giật, do ông nghiên cứu chế tạo, ngoài chống xe tăng, bọc thép, còn đánh cả tàu chiến chạy gần bờ hoặc dập tắt hỏa lực hay bắn tan đội hình địch tập trung số quân đông.

Đây là một mốc mới trong cuộc đời của nhà khoa học Trần Đại Nghĩa, từ một nhà khoa học, thêm nhiệm vụ chỉ đạo công tác quân giới - vũ khí cho Quân đội trong chiến tranh. Và trong đợt phong hàm tướng lĩnh đầu tiên ngày 28/5/1948, cho 9 vị tướng thì có Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa - nhà khoa học đầu tiên mang hàm tướng lĩnh của Quân đội anh hùng.

Như vậy, từ một trí thức, theo Bác Hồ về nước, say mê, tận tụy với nghề chế tạo vũ khí phục vụ kháng chiến, Trần Đại Nghĩa đã cống hiến những sáng chế rất quan trọng về vũ khí, về khoa học cho Quân đội ta, cho 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Sau khi được Đảng, Nhà nước cử làm Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học VN, đồng thời là Chủ tịch các Hội Liên hiệp Khoa học kỹ thuật Việt Nam. Năm 1966, ông được bầu làm Viện sỹ nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, rồi Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học CHDC Đức.

Trên cương vị nào, ông cũng để lại những tình cảm tốt đẹp nhất đối với các nhà quân sự, cũng như giới trí thức 2 miền. Khi được nghỉ hưu, ông vào sống tại TP Hồ Chí Minh, song vẫn rất chú ý đến công tác đào tạo, bồi dưỡng những nhân tài của đất nước và của Viện Khoa học Việt Nam. Đối với các nhà khoa học sau này, như GS Nguyễn Văn Hiệu, GS Phan Đình Diệu, cùng bao nhiêu thế hệ các nhà khoa học khác, đều ghi nhớ mãi trong tâm mình, về việc “nhân” việc “nghĩa” trong con người GS - VS Trần Đại Nghĩa.

Những ngày cuối đời, ông luôn khắc khoải về hình ảnh người mẹ và chị ruột của mình trên sông Măng, mà lúc mẹ mất do còn ở Pháp xa xôi, ông không được về để chịu tang mẹ. GS VS Trần Đại Nghĩa qua đời tại TP Hồ Chí Minh ngày 9/8/1997, hưởng thọ 85 tuổi.

Tên ông được đặt cho ngôi trường chuyên ở TP Hồ Chí Minh, cũng như một con đường lớn tại các tỉnh, thành phố của đất nước mà ông đã trọn đời cống hiến.

Giáo sư Trần Đại Nghĩa - tấm gương sáng ngời cho các thế hệ noi theo

Ngày 12/9, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tọa đàm về thân thế và sự nghiệp của Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa với sự tham gia của các đại biểu đến từ Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hội Khoa học kỹ thuật Robot Việt Nam, gia đình Giáo sư Trần Đại Nghĩa...

Nhớ về Giáo sư Trần Đại Nghĩa, các đại biểu cùng nhớ đến một con người dám từ bỏ công việc với lương tháng 22 lượng vàng để theo Bác Hồ về nước phụng sự Tổ quốc, từ bỏ cuộc sống sung sướng nơi Paris hoa lệ, chấp nhận khó khăn, thiếu thốn nơi rừng sâu Việt Bắc để được nghiên cứu chế tạo vũ khí, góp phần đánh đuổi quân xâm lược Pháp.

Ông là Cục trưởng quân giới đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong những người đặt nền móng cho nền công nghiệp quốc phòng non trẻ của Việt Nam. Ông còn là một vị anh hùng, một nhà bác học uyên thâm, một vị tướng thấm nhuần sâu sắc lời dạy của Bác Hồ, suốt đời giữ trọn đạo làm tướng.

Qua lời kể của bà Nguyễn Thị Khánh - vợ Giáo sư Trần Đại Nghĩa thì ông say mê nghiên cứu và chế tạo vũ khí đến quên hết mọi thứ, cả tuần không tắm, đến mức có lần đi suối tắm quá nửa ngày không về, anh em đi tìm thì thấy ông đang ngồi trên tảng đá viết những công thức ngoằn ngoèo. Có lần Bác Hồ phải kêu lên: “Thím Nghĩa đâu mà để chú Nghĩa ra nông nỗi này”. Với ông, cuộc sống lúc nào cũng giản dị và đạm bạc nhưng ông luôn cảm thấy thoải mái và hạnh phúc.

PV

Phạm Bá Nhiễu

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.