Nhà văn Nguyễn Quang Thiều và ký ức ngày Tết

Trong những Tết thảnh thơi, tạm khép lại những bận rộn và tất bật của một năm, thì đọc văn Nguyễn Quang Thiều, khiến người ta ngấm cái vị mằn mòi của cố hương, của tình mẹ, tình cha, của một ngôi làng trong ký ức của mình...

Nếu có một nhà văn nào đó viết về cố hương hay nhất và neo vào lòng người nhiều xúc cảm nhất, thì danh xưng đó, chắc chắn dành tặng Nguyễn Quang Thiều. Trong những Tết thảnh thơi, tạm khép lại những bận rộn và tất bật của một năm, thì đọc văn Nguyễn Quang Thiều, khiến người ta ngấm cái vị mằn mòi của cố hương, của tình mẹ, tình cha, của một ngôi làng trong ký ức của mình. Nơi đó, là mạch nguồn sâu thẳm, giúp mình lớn lên trong cuộc đời dài rộng và nhiều biến cố.

Mỗi lần gặp Nguyễn Quang Thiều, cảm giác như được anh tiếp thêm lửa bởi những câu chuyện kể của cuộc đời mình, về ngôi làng Chùa thân thuộc của mình. Những câu chuyện bình dị mà sâu lắng, chất chứa tình yêu thương cuộc đời và con người. 

Ở đó, những điều tốt đẹp và dấu yêu của một làng quê, một chòm xóm, một tình cố hương bền vững và sâu thẳm trong mỗi con người được nâng lên thành giá trị nhân văn. Những giá trị cốt lõi mà trong suốt cuộc đời, ai cũng phải mang theo...

Những người xa quê hương, chuyện về những ngày Tết bao giờ cũng gợi lên nhiều nỗi nhớ miên man. Tết của làng Chùa quê hương của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, là những kỷ niệm gắn bó mật thiết dường như trong cả cuộc đời anh. 

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều kể lại: "Hằng năm chúng tôi sẽ đóng cửa nhà ở thành phố, vợ chồng con cái cùng các cháu về làng Chùa ăn Tết. Cái lệ này đã có từ khi cha mẹ tôi còn sống, trừ những năm tôi đi học ở nước ngoài, còn ở Việt Nam là tôi về quê ăn Tết. Đến giờ các cụ đã mất 10 năm rồi, nhà cửa ở quê nhờ người trông coi, nhưng cứ đến Tết là gia đình tôi lại về quê. Chúng tôi sẽ cùng nhau chuẩn bị bàn thờ, lau chùi cọ rửa đồ thờ. 

Ở làng tôi con đường ra nghĩa trang của làng bao giờ cũng được dọn dẹp sạch sẽ nhất, nghiêm trang nhất. Mọi người từ người trẻ đến người già đều ăn mặc thật tươm tất để ra mộ, mời người đã khuất về ăn Tết. Hồi bé, chiều 30 Tết tôi thấy cả làng ra thăm mộ, một cách mơ hồ tôi cảm nhận được sự linh thiêng của tục lệ đó.Chúng tôi còn cùng nhau làm các món ăn truyền thống như cha mẹ tôi đã từng làm. Trong Tết, các gia đình sẽ tới thăm nom nhau, đóng góp cho quỹ khuyến học, vinh danh những người có thành tích trong dòng họ…

 Sau một năm làm việc bận rộn, có quá nhiều việc làm ta xao nhãng, dường tất cả những gì đẹp nhất của gia đình, dòng họ, của văn hóa đều được hồi phục lại trong những ngày Tết.

Quê tôi có một món tất cả mọi người đều làm là cá nướng. Cuối năm mọi người tát ao hồ bắt lên rất nhiều cá trắm, cá chép, cá trôi. Họ sẽ rửa cá, ướp với gừng và một chút muối, cặp cá bằng kẹp tre bánh tẻ rồi mỗi ngày nướng hai đến ba lần. Họ để cá gần bếp lửa cho nó ám khói, cho đến khi vẩy con cá vàng suộm. Cá phải nướng bảy lửa, bảy khói, rồi treo lên gác bếp. Với kĩ thuật nướng rất từ tốn này, con cá có thể để được hai đến ba tháng. 

Ngày xưa mọi người hay dùng lõi ngô khô để đốt. Khói lõi ngô quện vào con cá cho một hương vị thơm đặc biệt. Thịt con cá nướng rất dai, săn chắc. Khi ăn, nướng lại một chút cho nóng, xé từng miếng ăn với cơm gạo mới và nước mắm ngon rắc chút hạt tiêu. 

Làng tôi còn có món thịt lợn quay. Họ sẽ quay thịt ba rọi, phần mỡ chảy ra họ sẽ cho vào một cái âu, rồi ngâm miếng thịt quay vào trong hũ mỡ, đổ một lớp muối lên. Như vậy sẽ có thịt để dành ăn Tết. Thỉnh thoảng người ta sẽ lấy đũa chọc vào hũ mỡ lấy chút mỡ muối đó ra ăn cơm, nên người làng tôi vẫn dùng từ "một đũa mỡ". Có thịt quay, cá nướng, có hõm rau cần là yên tâm chờ tới ngày hội làng rồi. Bà con từ miền khác đến chơi nhà dăm ba ngày sẽ được thết đãi những món này. 

Trong những ngày Tết, những thức ăn thừa như cá nướng, thịt gà, thịt lợn, hành muối, dưa muối sẽ được người dân bỏ vào một vại đựng nước vo gạo nếp. Tất cả sẽ lên men, thơm vô cùng. Đây là nguyên liệu để nấu món canh bỗng. Khi đã no nê cá, thịt suốt ba ngày Tết, người ta sẽ chuyển sang ăn bún với canh bỗng và rau diếp hái trong vườn cho nhẹ nhàng, thanh cảnh".

Nhiều người nhận xét, nhà văn Nguyễn Quang Thiều là người kể chuyện cực kỳ có duyên và đầy sự quyến rũ. Trong câu chuyện của Nguyễn Quang Thiều, lẫn trong những câu chuyện dân gian là đan xen nhiều chuyện ma quái, mộng mị. Bởi vậy mà văn của anh, luôn nhuốm màu sắc tâm linh đầy mê hoặc. Nhưng có lẽ với anh, những ngày Tết bây giờ buồn bã hơn bởi vì anh đã mất đi đấng sinh thành, hai người quan trọng nhất cuộc đời anh. 

Nguyễn Quang Thiều kể lại: "Trong tôi đầy những ký ức, ý niệm về những ngày Tết, về tháng Giêng. Tết khi còn mẹ cha, đối với tôi nó mới thực sự có ý nghĩa. Tết những năm không còn cha mẹ, nó cay đắng và tủi hờn. Đôi khi tôi không có đủ thời gian để nghĩ về mình, về tuổi của mình. Suốt từ ấu thơ cho tới bây giờ, lúc nào tôi cũng nhớ mẹ. 

Mỗi tuần về quê, khi trở lại thành phố, lòng tôi mang đầy cảm giác xa xôi và cô độc. Khi lên đến dốc đê, tôi nhìn về làng và không muốn đi. Nơi ấy có ngôi nhà tôi sinh ra và lớn lên. Nơi ấy có mẹ tôi mỗi tuần ngóng đợi các con về. Tôi luôn tự nhủ khi đến tuổi hưu sẽ về quê sống với mẹ. Nhưng tôi không kịp thực hiện mơ ước ấy. Mẹ tôi đã ra đi. Tôi suốt đời ân hận. 

Thuở nhỏ cứ chiều chiều anh chị em tôi ra đầu ngõ chờ mẹ. Kể cả những năm tháng đói ngèo đó và những năm tháng đời sống được cải thiện rất nhiều thì gia sản lớn nhất của chúng tôi vẫn là mẹ. Có những chiều mưa giông, chúng tôi đứng bên hiên nhà đợi mẹ. Mẹ về, cả người mẹ ướt sũng và tái ngắt vì lạnh. 

Thấy mưa, mẹ ở lại bắt châu chấu vì mưa chấu chấu thường không bay xa được. Mẹ rang châu chấu với nước muối cà cho chúng tôi ăn. Sau này khi gia đình tôi không còn chạy ăn từng bữa thì mẹ vẫn ứa nước mắt khi nhớ những ngày các con phải chịu đói rét. 

Hai tuần trước khi mất, mẹ tôi mơ thấy cha tôi về. Sau khi cha tôi mất, tôi về quê nhiều hơn với mẹ cho dù lúc đó anh trai tôi đã nghỉ hưu và thường xuyên ở nhà với mẹ. Những đêm ở quê tôi thường ngồi viết đến hai, ba giờ sáng và thắp hương liên tục cho cha. Những đêm như thế, mẹ tôi thường nói vọng từ trong màn ra: “Sau này mẹ mất, con đừng làm việc như thế nữa”. 

Khi chưa ốm nặng, mẹ thường thức giấc và đến bên giường tôi xem tôi đã cài màn kỹ chưa. Lúc nào tôi cũng chỉ là đứa trẻ lên ba với mẹ. Có phải như thế mà khi cha mất, tôi đau buồn nhưng cứng rắn. Còn khi mẹ mất, tôi hoàn toàn suy sụp như đứa trẻ lạc mẹ ở một chốn xa lạ hoang vắng không người. 

Tôi nhớ mẹ như đứa trẻ lên ba đợi mẹ trong những chiều mưa giông mà mẹ không về. Giờ tôi vẫn lẩn thẩn trong những buổi chiều và những đêm khuya trong ngôi nhà mỗi khi về quê. Có lúc thoáng giật mình tưởng chưa nấu cơm chiều cho cha mẹ. Nhưng nhận ra cha mẹ không còn nữa. 

Và bây giờ, tôi mới thấu được nỗi mồ côi cha mẹ như thế nào. Mấy tháng trước khi mất, hai mẹ con tôi ngồi bên hiên nhà trong một đêm trăng. Đêm ấy mẹ nói với tôi: “Sau này mẹ mất, có còn ai yêu con nữa không?”. Đấy chính là nỗi sợ cuối cùng của mẹ trước khi rời xa thế gian này cho dù lúc đó tôi đã ngoài 50 tuổi".

Có lẽ chính vì nỗi lòng đầy đau đáu thế, nên Nguyễn Quang Thiều chia sẻ rằng, anh hầu như viết về những câu chuyện trong những đêm khuya khoắt. Đó là khoảng thời gian tĩnh lặng nhất trong ngày. Sự tĩnh lặng ấy cho anh nhiều yếu tố để trở về quá khứ một cách đầy đủ nhất. Còn những giấc mộng cũng là một cách đi. Đi ra khỏi con người hiện thực của mình. Đi bằng suy tưởng và trí tưởng tượng. 

Khi chúng ta suy tưởng về con người mình là chúng ta đang thực hiện một chuyến đi vào bên trong con người mình. Nhưng cả đời sống tôi đang sống và những giấc mơ tôi có đều là một thể thống nhất. Cả hai đều hiện thực và cả hai đều ảo, không thể tách rời từng thứ ra được. 

Trong "Ngôi nhà gỗ màu đỏ" anh viết: “Cuộc sống thực sự là một chuỗi ký ức buồn bã, da diết, khổ đau đầy những suy tưởng, nhưng lúc nào cũng ngân vang cả trong bóng tối”. 

Rồi anh viết về cố hương: "Đâu đây có tiếng nói mê đàn ông bên mái tóc đàn bà/ Đâu đây thơm mùi sữa bà mẹ khe khẽ tràn vào đêm/ Đâu đây những bầu vú con gái tuổi mười lăm như những mầm cây đang nhoi lên khỏi đất/ Và đâu đây tiếng ho người già khúc khắc/ Những trái cây chín mê ngủ tuột khỏi cành rơi xuống/ Góc vườn khuya cỏ thức một mình/ Tôi hát bài hát về cố hương tôi/ Trong ánh sáng đèn dầu/ Ngọn đèn đó ông bà tôi để lại/ Đẹp và buồn hơn tất cả những ngọn đèn/ Thuở tôi vừa sinh ra/ Mẹ đã đặt ngọn đèn trước mặt tôi/ Để tôi nhìn mặt đèn mà biết buồn, biết yêu và biết khóc/ Tôi hát bài hát về cố hương tôi/ Bằng khúc ruột tôi đã chôn ở đó/ Nó không tiêu tan/ Nó thành con giun đất/ Bò âm thầm dưới vại nước, bờ ao/ Bò quằn quại qua khu mồ dòng họ/ Bò qua bãi tha ma người làng chết đói/ Đất đùn lên máu chảy ròng ròng/ Tôi hát, tôi hát bài ca về cố hương tôi/ Trong những chiếc tiểu sành đang xếp bên lò gốm/ Một mai đây tôi sẽ nằm trong đó/ Kiếp này tôi là người/ Kiếp sau phải là vật/ Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ/ Để canh giữ nỗi buồn - báu vật cố hương tôi"...

Nhân dịp năm mới, hỏi nhà văn Nguyễn Quang Thiều những ý niệm về Tết, anh cho rằng, với anh một năm chỉ là sự thay đổi nào đó về một nhịp, một vòng tuần hoàn của thời gian. Có thể với nhịp hay vòng tuần hoàn của thời gian thì có những biến động đối với cuộc sống của mình. Nhưng có một điều anh biết trước đó là riêng với anh, anh luôn hướng về những điều tốt đẹp đang chờ ở phía trước...

Nhật Huy

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.