Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Những phóng viên cầm súng

Những ngày đầu năm 1963, sau chiến thắng vang dội tại Ấp Bắc, cục diện chiến trường miền Nam có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Để kịp thời cổ vũ tinh thần quyết chiến quyết thắng, yêu cầu về một tờ báo riêng của lực lượng vũ trang miền Nam trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

ky tich 5.jpg -0
Ông Nguyễn Đình Thịnh.

Ngày 25/3/1963, giữa căn cứ Trảng Chiến (Tây Ninh) nắng cháy, trong một hội nghị quân sự quan trọng, Trưởng ban Quân sự Miền, Trần Nam Trung đã chính thức phổ biến chủ trương thành lập Báo Quân giải phóng (trực thuộc Phòng Chính trị Quân giải phóng miền Nam Việt Nam (Phòng Chính trị Miền) do Trưởng ban Tuyên huấn Lê Đình Lệ phụ trách, Võ Thành Liên và Trần Nam Hương thường trực tòa soạn). Sau một thời gian chuẩn bị âm thầm nhưng khẩn trương, ngày 1/11/1963, số báo đầu tiên chính thức rời bản in. Một sự trùng hợp lịch sử đầy thú vị, đó cũng là ngày chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ tại Sài Gòn.

ky tich 6.jpg -1
Đại tá, PGS.TS Hồ Sơn Đài và hai cựu phóng viên Báo Quân giải phóng Trần Thị Vinh, Nguyễn Đình Thịnh giao lưu tại buổi lễ ra mắt sách cách nay 3 năm.

Từ đây, tiếng nói của các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức vang lên, trở thành người bạn đồng hành tin cậy của mỗi chiến sĩ trên khắp các nẻo đường ra trận. Báo gồm 4 trang, khổ 27x39cm. Thời đó chưa có máy in kỹ thuật số, báo không in ảnh mà minh họa bằng các hình vẽ từ bản khắc gỗ. 2.000 bản in đầu tiên với các chuyên mục phong phú từ xã luận, bình luận, thời sự, phóng sự, đến thơ văn, biếm họa... đã nhanh chóng tỏa đi khắp các quân khu, đơn vị binh chủng (đến cấp đại đội), vào tận lòng đô thị Sài Gòn - Gia Định.

Chúng tôi đi B với tâm thế của người lính. Với cây bút bi và tập giấy học trò cắt đôi cho gọn, chúng tôi đi về các chiến trường xa, các đơn vị bộ đội để khai thác tư liệu. Nhiều khi đang viết phải buông bút cầm súng chiến đấu cùng đơn vị. (Ông Nguyễn Đình Thịnh)

Làm báo thời bình đã khó, làm báo giữa chiến trường miền Đông gian lao, nơi cái chết và sự sống chỉ cách nhau gang tấc, lại càng là một thử thách nghẹt thở. Những phóng viên Báo Quân giải phóng năm xưa phần lớn không được đào tạo bài bản từ trường lớp báo chí. Họ là giáo viên, là cán bộ chính trị, là những người con ưu tú được cách mạng tin tưởng giao phó trọng trách “cầm bút thay súng”.

Ông Nguyễn Đình Thịnh (SN 1940, quê Hà Nội, hiện ở Lộc Ninh, Bình Phước cũ), vốn là một giáo viên dạy Văn tại Hà Nội trước khi trở thành phóng viên báo vào năm 1966. Ông nhớ lại: “Chúng tôi đi B với tâm thế của người lính. Với cây bút bi và tập giấy học trò cắt đôi cho gọn, chúng tôi đi về các chiến trường xa, các đơn vị bộ đội để khai thác tư liệu. Nhiều khi đang viết phải buông bút cầm súng chiến đấu cùng đơn vị”.

Trong ký ức của ông Thịnh, làm báo trong rừng là cuộc đấu trí với bóng tối và sự hủy diệt. Ban đêm không được thắp đèn vì sợ máy bay địch phát hiện, ban ngày vừa viết vừa sẵn sàng tránh bom. Có những bài viết được hoàn thành dưới hầm chữ A chật chội, nồng mùi đất. Đau xót hơn, nhiều đồng đội của ông đã ngã xuống khi bài viết còn dở dang trong túi áo, chưa kịp gửi về tòa soạn. Những cái tên như Thân Trọng Hân, Phạm Ngọc Châu... đã mãi mãi nằm lại trên đường tiến quân vào Sài Gòn, để lại những trang bản thảo thấm máu.

Đặc biệt, trong đội ngũ ấy còn có những bóng hồng quả cảm. Bà Trần Thị Vinh (SN 1941, quê Bắc Ninh, hiện ở phường Tân Bình, TP Hồ Chí Minh), một trong hai nữ phóng viên đầu tiên được tăng cường từ miền Bắc (nằm trong biên chế cán bộ giáo viên Đoàn K33) cho Báo Quân giải phóng thời bấy giờ.

ky tich 2.jpg -0
Bà Trần Thị Vinh trao đổi cùng tác giả bài viết.

Bà Trần Thị Vinh vẫn nhớ như in ngày 14/9/1965, bà nhận được văn bản của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Nội dung văn bản ghi rõ: “Bộ Giáo dục đã có quyết định cho chị đi công tác đặc biệt. Trường chúng tôi báo tin cho chị biết và chị chuẩn bị các thủ tục sau đây, ngày 22/9/1965 có mặt tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội…”.

Sau quá trình chuẩn bị, đến ngày 5/1/1966, bà Trần Thị Vinh cùng các thành viên bắt đầu hành trình hành quân vào Nam. Đến ngày 20/4/1966, tức là sau 3 tháng 15 ngày, vượt qua 112 trạm giao liên, lực lượng của Đoàn K33 gồm 111 người vào đến Trạm 17 của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam. Tại đây, các giáo viên lần lượt được phân bổ về các cơ quan, đơn vị Miền. Trong số các giáo viên của Đoàn K33, bà Vinh cùng người bạn Hà Thị Phương Thịnh (SN 1942, người Hà Tây) và 10 người khác được đưa về Phòng Tuyên huấn, biên chế vào Báo Quân giải phóng.

Cả 12 “tân phóng viên” được bố trí tại một trạm giao liên bên bờ suối Bà Chiêm thuộc tỉnh Tây Ninh. Tại đây, các “tân phóng viên” hành quân về căn cứ Bời Lời dự Đại hội liên hoan chiến sĩ thi đua và dũng sĩ diệt Mỹ của tỉnh Tây Ninh. Chính tại đây, bà Vinh đã viết được bài báo đầu tiên trong đời làm báo của mình. Đó là viết về gương cô du kích Út Tịch, người Củ Chi - một mình dùng 3 hỏa tiễn gắn trên đầu súng trường bá đỏ bắn cháy xe tăng của địch…

“Bài báo đó tôi viết nhanh lắm vì những gì cô du kích nhỏ nhắn đó kể quá cảm xúc. Bài đã được đăng trên Báo Quân giải phóng, sau đó còn được phát thanh trên Đài Tiếng nói Việt Nam khiến tôi rất vui sướng…”, bà Trần Thị Vinh cười tươi kể lại.

Theo bà Trần Thị Vinh, bà cùng với Hà Thị Phương Thịnh là 2 phóng viên nữ duy nhất của Báo Quân giải phóng. Cả hai đều là bạn học phổ thông, vào chiến trường phục vụ tờ báo cùng một ngày. Dù là nữ nhưng là phóng viên, bà Vinh đã cùng đồng đội lăn xả vào chiến trường, tham gia nhiều chuyến công tác của các đoàn giao liên, đi vào các chiến trường ác liệt để viết nhiều tin, bài về tình hình chiến sự thực tế, gương cán bộ chiến sĩ…

“Ngày đó, chúng tôi cũng là chiến sĩ, vào chiến trường được dạy cách sử dụng các vũ khí quân dụng bộ binh như lựu đạn, dao găm, súng tiểu liên... Ngoài ra, tôi cùng với các anh em phóng viên khác cũng làm hầu hết các công việc như đưa đón cán bộ, tài liệu, lo thực phẩm, nấu ăn cho đơn vị, dạy học cho bộ đội… Mọi thứ rất vất vả nhưng chúng tôi luôn cố gắng vừa chiến đấu vừa hoàn thành nhiệm vụ của tờ báo...”, bà Trần Thị Vinh chia sẻ.

ky tich 3.jpg -0
Ông Vũ Văn Chuẩn vẫn còn lưu rất nhiều bài báo, tư liệu.

Nếu các phóng viên “vòng ngoài” đối mặt với bom đạn trực diện, thì bộ phận biên tập “vòng trong” lại có những nỗi vất vả thầm lặng khác. Ông Vũ Văn Chuẩn (sinh năm 1947, ngụ phường Thạnh Mỹ Tây, TP Hồ Chí Minh), cựu biên tập viên của báo, kể về quy trình làm việc “độc nhất vô nhị”.

Dù tin bài ngắn hay dài, chúng tôi cũng đều phải đếm bằng mắt thường, đếm từng chữ để thống kê rõ, chứ không phải như máy tính bây giờ. Có những bài dài đến 3.000 chữ, đếm xong mà hoa cả mắt. (Ông Vũ Văn Chuẩn)

Nhiệm vụ của ông là tiếp nhận các thông tin chiến sự được mã hóa từ Bộ Chỉ huy Miền, sau đó giải mã, lọc tin quan trọng để viết thành tin bài. Trong điều kiện ánh sáng leo lét của đèn dầu dưới hầm mái trung quân “nửa nổi nửa chìm”, những dòng chữ được nắn nót ra đời.

“Dù tin bài ngắn hay dài, chúng tôi cũng đều phải đếm bằng mắt thường, đếm từng chữ để thống kê rõ, chứ không phải như máy tính bây giờ. Có những bài dài đến 3.000 chữ, đếm xong mà hoa cả mắt,” ông Chuẩn cười nhớ lại.

Sự tỉ mỉ ấy không hề thừa thãi, bởi mỗi thông tin phát đi trên báo in hay gửi hỏa tốc cho Đài phát thanh đều phải tuyệt đối chính xác và đảm bảo bí mật quân sự. Tờ báo khi ấy không chỉ cung cấp thông tin mà còn là món ăn tinh thần vô giá.

Kỳ tích 338 số báo và giá trị trường tồn

Suốt 12 năm tồn tại (1963-1975), Báo Quân giải phóng đã xuất bản được 338 số. Ngày 15/10/1975, số báo cuối cùng ra đời, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình sau khi đất nước thống nhất.

ky tich 8.jpg -1
Nguyên lãnh đạo, phóng viên Báo Quân giải phóng và Báo Quân khu 7 tại Lễ trao danh hiệu Anh hùng LLVTND (năm 2018).

Đại tá, PGS.TS Hồ Sơn Đài, nguyên Trưởng phòng Khoa học quân sự Quân khu 7, khẳng định: “338 số báo ra đời với hàng nghìn tin bài trong điều kiện chiến tranh khốc liệt thực sự là một kỳ tích. Đó là kết tinh của trí tuệ, mồ hôi và cả máu xương của hàng trăm con người. Mỗi trang báo là một mảnh ghép của sự thật lịch sử, phản ánh hơi thở nóng hổi của chiến trường”.

Sau ngày hòa bình, những người làm báo năm xưa mỗi người một ngả. Người tiếp tục sự nghiệp giáo dục, người trở thành luật sư, người là cán bộ pháp chế... Nhưng dù ở vị trí nào, cái chất phóng viên chiến trường vẫn chảy bừng trong huyết quản. Ông Nguyễn Đình Thịnh giờ đã 85 tuổi, vẫn lặn lội vào Bình Phước sinh sống để làm đầu mối liên lạc cho các cựu phóng viên. Bà Trần Thị Vinh, sau nhiều năm làm quản lý giáo dục tại TP Hồ Chí Minh, vẫn giữ vẹn nguyên những kỷ niệm về trạm giao liên bên bờ suối Bà Chiêm. Còn ông Vũ Văn Chuẩn hiện đang là Trưởng văn phòng Luật Yên Sinh TP Hồ Chí Minh…

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng mỗi khi nhắc về Báo Quân giải phóng, các cựu chiến binh lại bồi hồi về một thời “lố đến lạ kỳ” - cái thời mà cả tòa soạn vểnh tai nghe Đài phát thanh đọc bài của mình rồi nhảy cẫng lên sung sướng như trẻ nhỏ. Niềm vui ấy thật giản đơn nhưng lại chứa đựng khát vọng hòa bình cháy bỏng của cả một thế hệ, đúng như lời từng chia sẻ của ông Nguyễn Đình Thịnh…

Kỳ tích của Báo Quân giải phóng không chỉ nằm ở con số 338, mà nằm ở chỗ nó đã sống mãi trong lòng quân và dân ta như một biểu tượng của lòng quả cảm và niềm tin tất thắng. Những trang giấy nhòe máu năm xưa nay đã trở thành di sản vô giá, nhắc nhở thế hệ hôm nay về một thời hoa lửa hào hùng của dân tộc.

Phú Lữ

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.