Người xoay chuyển số phận nghiệt ngã

Hạnh phúc đã mỉm cười với người phụ nữ ấy, dù rằng hoàn toàn không có được từ một chút ưu ái của số phận. Nói đúng hơn, hạnh phúc ấy chính là kết quả từ bản lĩnh, từ hành trình hóa giải những nghiệt ngã của số phận bằng chính trái tim yêu thương của bà, Lâm Thị Út Một, người nữ cựu tù Côn Đảo kiên trung năm nào.

Đặt bút viết về bà nhưng không hiểu sao trong tôi cứ chập chờn gương mặt nhòe nước mắt và câu nói nghẹn ứ của dì Dương Thanh Cầm, người vợ thủy chung của liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thế Truyện khi lý giải sự hy sinh của những người phụ nữ thế hệ bà rằng "hạnh phúc đời mẹ thì ngắn, hạnh phúc đời con thì dài".

Thực ra, dì chỉ nói cho hoàn cảnh riêng mình nhưng vô tình nói thay cho cả một thế hệ không ít những người phụ nữ lặng thầm hy sinh tuổi thanh xuân, hy sinh hạnh phúc riêng tư cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Những người phụ nữ như thế, tôi đã gặp không ít, viết về các dì, các mẹ cũng không ít nhưng cay đắng như đời bà, thủy chung, cao cả và bao dung được như bà thì quả tình hiếm thấy, không phải chỉ ở trên dải đất hình chữ S này. Bà là nữ chiến sĩ, cựu tù Côn Đảo Lâm Thị Út Một, người con gái của mảnh đất thành đồng Nam Bộ.

Đám cưới và đám giỗ

Tên thật của bà là Nguyễn Thị Để. Quê gốc ở Tiền Giang, 24 tuổi, cái tuổi khá muộn mằn với các cô gái miền Tây thời ấy bà mới lấy chồng. Hồi tưởng lại chuyện quá khứ, bà cười, ánh mắt phảng phất chút buồn mà rằng: Gọi là cưới nhưng thực ra là hai gia đình mượn đám giỗ để có cớ tụ họp đông người, tránh tai mắt của địch. Chú rể Phạm Hùng Vĩnh đang là cán bộ Tỉnh đội, chủ yếu hoạt động trong cứ.

Ngày cưới, tháp tùng chú rể là một đoàn hơn chục người, lố nhố súng ống. Để đảm bảo an toàn, cả đoàn nằm phục ở đống rơm ngoài vườn. Cỗ cưới là thức ăn cúng giỗ bà nội và liên hoan cũng âm thầm ngay tại… đống rơm. Lễ xong ai về nhà nấy. Để đảm bảo bí mật hoạt động thời chiến, ngày bà khăn gói về làm dâu không có ai đưa đón. Bà làm dâu 2 ngày rồi trở lại Sài Gòn, tiếp tục hoạt động với tên khác: Lâm Thị Út Một.

Lệnh đình chiến, bà ở với chồng được đúng 1 ngày 1 đêm thì nghe thông báo ông nhận lệnh tập kết. Bà lẳng lặng nhờ thợ may may cho ông 4 bộ đồ thật mới. Ngày ông lên đường, bà cùng ba chồng, anh chồng, chị dâu khăn gói, chèo xuồng rong ruổi theo đoàn người đi từ Tiền Giang đến Đồng Tháp Mười. Đoàn dừng ở đâu, xuồng cập ở gần đó. Có cơ hội là ông lại tranh thủ cho đón vợ lên.

Lần gặp cuối, ông ngập ngừng đề nghị: Hay là tôi xin cho mình cùng đi… Bà giãy nảy: Tôi không cần xin xỏ. Cả ông và bà đều là đảng viên. Ngày ấy, được đi tập kết là một vinh dự, người ở lại cũng lãnh trách nhiệm nặng nề. Khẩu hiệu: Đi vinh quang, ở vĩ đại hầu như ai cũng thuộc nằm lòng. Tinh thần cách mạng, lý tưởng cách mạng, tiếng gọi của Đảng, nhiệm vụ của Đảng giao là trên hết.

Tuy nhiên, sợ bà không chịu nổi lúc chia xa, ông không cho bà ra nơi tàu đỗ. Bà còn nhớ rất rõ, nơi vợ chồng hẹn nhau lần cuối là một gốc me trên gò của Sa Đéc. Chia tay trong im lặng, không một lời hứa hẹn nhưng bà đã chờ ông đúng 21 năm đằng đẵng. 21 năm bà gần như bặt tin chồng. Chỉ có điều, ngày gặp lại vẫn đong đầy nước mắt tủi hờn với một bi kịch khác, nghiệt ngã và đau đớn hơn.

Sống là cho, không chỉ nhận riêng mình

Bà Út Một kể rằng, 10 năm sau ngày tiễn ông đi, bà mới nhận được tin chồng. Không có thư, chỉ có một tấm thiệp vỏn vẹn mấy dòng chữ, đại ý là ông không ngờ 10 năm rồi bặt tin nhau, bà vẫn một lòng thủy chung chờ đợi. So với Nguyệt Nga đợi Vân Tiên xưa thực cũng không bằng bà… Thực ra, trước đó, cũng có tin đồn rằng ông đã hy sinh nhưng bà không tin. Có lá thiếp, bà càng thêm vững tin, rằng nhất định ông sẽ thủy chung, nhất định ông sẽ trở về.

Năm 1968, Lâm Thị Út Một trở thành Quận ủy viên quận 8, Bí thư chi bộ phường Hưng Phú. Chiêu hồi chỉ điểm, bà cùng một loạt cán bộ khác bị bắt. 8 tháng ròng bị tra tấn, chuyển qua không biết bao nhiêu bót, trại giam, địch vẫn không khai thác được gì. 3 người đồng đội bị chúng tra tấn cho đến chết. Nhân đó chị em trong lao bàn nhau biểu tình, không cho địch vào lấy xác. Địch đàn áp, bí mật đưa một số đồng chí ra sông thủ tiêu. Cũng đợt này bà Một và một số đồng chí bị chuyển nhà lao. Nghĩ các đồng chí của mình bị đưa đi thủ tiêu, nhà giam dậy tiếng khóc. Chứng kiến cảnh Út Một bị đưa đi còn có người vợ của một lãnh đạo cấp tỉnh, quen biết với cả hai ông bà. Tin bà bị thủ tiêu nhanh chóng được báo đi.

Cùng thời điểm này, ông Phạm Hùng Vĩnh cũng xin được trở về Nam chiến đấu, bị thương nặng tại Khe Sanh, đường 9 Nam Lào, các bác sĩ buộc phải đưa ông ngược trở ra Bắc. Đầu bị chấn thương, lại nghe tin vợ hy sinh, ông bấn loạn, bỏ đi lang thang không biết đường về. Tổ chức tìm cách "nối duyên" cho ông với nữ y tá Trần Thị Oanh, mong ông có thể nguôi ngoai thương nhớ mà bệnh tình thuyên giảm. Sau gần 3 năm, mối lương duyên chắp thành. 3 người con trai nối tiếp nhau chào đời.

Về phía bà Út Một, bị đày ra Côn Đảo, đến năm 1973 bà được địch trao trả nhưng hậu quả của những năm tháng tù đày khiến bà yếu gần như liệt. Mãi đến năm 1975, đất nước thống nhất, bà được điều về lại quận 8 làm Chủ tịch Hội phụ nữ quận. Hòa vào niềm vui chung của đất nước, bà hồi hộp ngóng đợi tin ông, chờ ngày vợ chồng trùng phùng, vui hưởng cuộc sống thái bình. Một ngày, người cháu chồng tìm đến, ngập ngừng thông báo: Cậu đã có vợ con ngoài Bắc. Bà chết điếng.

Bà Lâm Thị Út Một hạnh phúc bên cháu nội và những người con riêng của chồng hiện nay.
Bà Lâm Thị Út Một hạnh phúc bên cháu nội và những người con riêng của chồng hiện nay.

Chiến tranh, đạn bom, tù ngục, đòn roi của kẻ thù không khuất phục được nhưng nghe tin chồng bà nằm liệt trong bệnh viện cả tuần, gần như không ăn không ngủ. Biết vợ còn sống, ông Phạm Hùng Vĩnh cũng tức tốc xin tổ chức được gửi lại vợ con, trở lại miền Nam.

Ngày đầu tiên đoàn tụ sau 21 năm, bà chỉ lẳng lặng ngồi bên má còn ông ôm vai ngồi khóc. Bà không khóc. Bà bảo không biết tại sao lúc ấy lại có thể lạnh lùng và bình tĩnh đến thế. Thất vọng, oán hận ư? Nhưng bà biết trách ai bởi ngày đó, ngay người ở quê nhà cũng đều tin rằng bà đã bị địch giết từ lâu? Ấy thế nhưng hờn ghen thì cũng chuyện thường tình. Những ngày tiếp theo, bà lẳng lặng sắp xếp giường chiếu cho ông ngủ còn mình thì vác gối đi nơi khác, ông gọi cách nào cũng không được.

Biết mình có lỗi, ông cố tìm mọi cách hàn gắn, kể cả viết thư tuyên bố trả vợ, con ngoài Bắc cho tổ chức nhưng bà vẫn nhất định chuyển lên cơ quan ở. Ngày ấy, tổ sinh hoạt có 24 người thì có đến 16 người cùng chung cảnh ngộ với bà. Uất hận vì niềm tin bị phản bội, nhiều người bàn nhau tìm cách xả giận.

Biết chuyện, đích thân bà Nguyễn Thị Định đã phải tìm đến. Lắng nghe chị em chia sẻ, bớt đi bức xúc, người chị cả ấy mới trầm ngâm bảo rằng: Do hoàn cảnh chiến tranh mới đến nông nỗi ấy. Bây giờ chị em đã qua thì xuân sắc, các ông có bị vợ bỏ thì việc đi lấy vợ khác đâu có khó…

Nghe rồi, các chị giấu mặt vào vai nhau. Cả căn phòng rầm rầm tiếng khóc. Bà Út Một cũng thế. Khóc tức tưởi cho phận mình và cho cả những người bên cạnh họ. Họ có lỗi gì đâu. Cả cuộc đời vắt kiệt cho lý tưởng, gác tất cả hạnh phúc riêng tư cho cái chung, cho vẹn đạo dâu con. Sao số phận bất công với họ? Chung niềm đau, chung phận số nhưng bà Út Một đã chọn cho mình con đường đi, cách ứng xử mà hiếm người đàn bà nào chấp nhận và đủ nhẫn nại để chấp nhận suốt cuộc đời còn lại…

Đi qua giông bão

Trở lại với ông Phạm Hùng Vĩnh, sau nhiều ngày thuyết phục vợ không xong, căn bệnh cũ lại tái phát, ông bỏ đi lang thang. Sợ ông mệnh hệ gì… bà lại gác hết mọi tủi hờn, đón ông về lo thuốc thang. 3 tháng sau, bệnh tình thuyên giảm, ông tuyên bố sẽ không trở lại miền Bắc nữa, nhất định ở lại những mong bù đắp phần nào hạnh phúc cho bà. Biết chồng nói cứng, bà tỏ vẻ không mấy quan tâm cho ông yên lòng. Nhưng bằng sự nhạy cảm phụ nữ, bà hiểu, ông yên tâm sao được khi đàn con thơ vẫn đợi cha chúng trở về. Còn người vợ thứ, bà cũng đâu có lỗi gì?

Không đành lòng giữ ông cho riêng mình, nhân một chuyến công tác ra Bắc, bà bí mật nhờ người thân quen chỉ dẫn đến nơi mẹ con bà Oanh sinh sống. Trở lại miền Nam, cám cảnh cho cuộc sống vất vả cơ cực của mấy mẹ con người vợ thứ, bà thương chồng, thương mình, thương đám trẻ thơ dại. Không nói với chồng, bà lẳng lặng viết thư ra Bắc hỏi thăm, thi thoảng lại gửi tiền, quà về cho đám nhỏ.

Năm 1980, bà gợi ý bà Oanh đưa con vào Nam cho cha con đoàn tụ. Người đàn bà ấy cả đời chưa đến đất Nam, cũng vì nhiều lẽ nữa nên chỉ dám nhờ người thân đưa con đến gặp ông Vĩnh. Nhìn đứa trẻ mặc bộ đồ do chính mình mua gửi ra Bắc ngày nào, bà nhận ngay ra con riêng của chồng. Nhớ lại ngày ấy, Phạm Hùng Tường, người con cả của ông với bà Oanh kể lại rằng lúc đó mấy mẹ con rất ngại mẹ cả. Lần đầu tiên gặp thấy bà gọi ông "con nó về với mình", Tường rất ngạc nhiên.

Ông bà vẫn nói thương cả vạn người thì dễ nhưng cưu mang giúp đỡ được một người cụ thể lại khó hơn gấp bội. Vậy mà người phụ nữ chỉ 43kg như bà lại có một quyết định dũng cảm: cưu mang cả 4 mẹ con người vợ thứ, 4 người cháu, vừa chăm lo người chồng ốm yếu. Chống lại cái đói, hàng ngày, tranh thủ ngoài giờ làm, bà cùng vợ thứ cặm cụi chẻ củi thuê, sớm tối tần tảo ngoài chợ kiếm thêm đồng ra đồng vào, rau cháo qua ngày.

Người anh cả Phạm Hùng Tường nhớ lại: Nhà chật, 7 thằng nhóc đang tuổi ăn, tuổi nghịch. Chí chóe cãi nhau, còn bày trò nghịch dại, lấy thuốc nổ trong quả pháo nhồi vào ống bơ đốt chơi làm cả nhà một phen kinh hoảng. Cha mẹ giận quá, vác roi đi tìm, cả lũ trốn biệt tăm. Đến bữa cơm, đói quá mới mò về. Cơm canh dọn sẵn mà không thấy ai, tất cả hò nhau đánh chén sạch rồi bỏ nguyên đấy chui vào gầm giường chốn. Lúc ba mẹ về thì cơm canh hết trơn. Thì ra nấu cơm xong không thấy đứa nào về, ba mẹ đổ đi tìm. Nhìn đống bát đĩa ngổn ngang, nghe lục cục trong gầm giường, bà bật cười gọi: ra ngay, mấy ông tướng. Những chuyện nho nhỏ như thế thôi nhưng khiến lũ trẻ ngày càng gắn bó với người mẹ vốn chẳng ruột rà gì.

Mấy năm sau, 4 người cháu lần lượt vào trường Thiếu sinh quân, đón về quê. Không chống nổi bệnh tật, di chứng chiến tranh để lại, năm 1985, ông Phạm Hùng Vĩnh về dưới suối vàng. Lúc lâm chung, ông nắm tay bà Út và người con lớn trăng trối: Các con cố mà núm níu lấy mẹ cả, khôn lớn nên người…

Hai người đàn bà gạt nước mắt, lại làm quần quật nuôi con. Ít năm sau, bà Trần Thị Oanh cũng theo ông, bỏ lại 3 đứa con cho một tay bà nuôi nấng. Ngày người vợ thứ mất, bà đã để dành sẵn bên nơi ông nằm một phần mộ trống, dự tính sau này ai về với đất trước sẽ đặt cạnh bên ông. Đoán biết bà đặt mình bên mộ người chồng quá cố, bà Oanh nằng nặc không chịu. Bà bảo rằng nếu chị cả làm thế, bà chết cũng không nhắm mắt được. Cả đời chị cả thiệt thòi. Cha đám nhỏ là chồng của chị cả thì phải trả về cho chị cả. Bà chỉ xin được đưa về quê ngoại, đặt nằm bên cạnh má của bà Út vì lúc sinh thời ngoại thương bà Oanh như con gái…

Người đi yên phận nhưng người sống còn nhiều vất vả lo toan. Thấm thoắt cũng đã mấy chục năm. Khi chúng tôi đến ngôi nhà thủa xưa của đại gia đình bà Út sinh sống, cả ba người con trai riêng của ông Vĩnh với bà Oanh đã trưởng thành.

Nghe chúng tôi hỏi, cho đến bây giờ bà có thấy số phận bất công với mình quá không, bà chỉ cười hiền lành bảo: Chiến tranh mà, có ai muốn thế. Đúng lúc ấy, cô cháu gái chưa đầy 3 tuổi được má bế lên, sà vào ôm bà, bi bô: con yêu nội nhất! Căn nhà chộn rộn tiếng cười.

Nhìn khuôn mặt bà sáng ngời nụ cười vui đoàn viên bên các con cháu, chúng tôi chợt ngộ ra: Hạnh phúc đã mỉm cười với người phụ nữ ấy, dù rằng hoàn toàn không có được từ một chút ưu ái của số phận. Nói đúng hơn, hạnh phúc ấy chính là kết quả từ bản lĩnh, từ hành trình hóa giải những nghiệt ngã của số phận bằng chính trái tim yêu thương của bà, Lâm Thị Út Một, người nữ cựu tù Côn Đảo kiên trung năm nào

Ngọc Nguyễn

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.