Theo Chính phủ, để bảo đảm đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, số Chứng minh nhân dân (CMND) được quy định là số định danh cá nhân được xác lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, là dãy số tự nhiên gồm 12 số, được cấp cho mỗi công dân Việt Nam và không lặp lại ở người khác, dùng để xác định dữ liệu về căn cước và dữ liệu khác về công dân. Mặt khác, nếu như trước đây, số CMND sẽ thay đổi khi công dân thay đổi nơi thường trú từ tỉnh này sang tỉnh khác nên rất khó quản lý vì có thể lặp lại ở người khác, thì nay dự thảo Luật quy định số CMND là số định danh cá nhân và gắn với riêng công dân đó, không lặp lại ở người khác. Trường hợp đổi, cấp lại CMND thì số CMND vẫn giữ đúng theo số ghi trên CMND đã cấp lần đầu.
Về thời hạn sử dụng của CMND, pháp luật về căn cước công dân hiện hành quy định thời hạn sử dụng của CMND là 15 năm, kể từ ngày cấp. Tuy nhiên, quy định này chưa phù hợp với công dân ở từng độ tuổi khác nhau do ở mỗi độ tuổi khác nhau thì mức độ thay đổi về đặc điểm nhân dạng là khác nhau. Do đó, dự thảo Luật quy định theo hướng thời hạn sử dụng của CMND tương thích với từng độ tuổi nhất định; trong đó, thời hạn sử dụng CMND kể từ ngày cấp là 10 năm đối với người từ 15 tuổi đến dưới 25 tuổi, 15 năm đối với người từ đủ 25 tuổi đến dưới 55 tuổi. Người từ đủ 55 tuổi trở lên thì không xác định thời hạn.
Điểm đáng chú ý là dự thảo Luật không hạn chế người làm thủ tục cấp CMND, kể cả người đang bị tạm giữ, tạm giam; đang chấp hành án phạt tù; đang chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của mình. Quy định này nhằm bảo đảm quyền được cấp CMND của công dân để phục vụ giao dịch, đi lại. Về thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND, dự thảo Luật quy định một số nội dung nhằm loại bỏ các giấy tờ không cần thiết khi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND. Theo đó, công dân đến làm CMND chỉ cần kê khai vào tờ khai cấp CMND. Về thủ tục cấp lại CMND, người đến làm thủ tục chỉ phải nộp đơn mà không cần xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn do các thông tin về công dân đã được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu căn cước công dân. Quy định này sẽ tạo thuận tiện hơn cho công dân để làm thủ tục cấp CMND.
Về nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND. pháp luật hiện hành chỉ quy định công dân làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND tại Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu cấp, đổi, cấp lại CMND ngày càng tăng của công dân, dự thảo Luật quy định công dân có thể lựa chọn một trong các nơi dưới đây để làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND:
+ Trụ sở cơ quan quản lý căn cước công dân của Bộ Công an là nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND cho công dân trong phạm vi toàn quốc;
+ Trụ sở cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND cho công dân đăng ký thường trú trong phạm vi cấp tỉnh;
+ Trụ sở cơ quan quản lý căn cước công dân của Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là nơi làm thủ tục cấp, đổi, cấp lại CMND cho công dân đăng ký thường trú trong phạm vi cấp huyện.
+ Trường hợp có điều kiện, cơ quan Công an có thẩm quyền có thể tổ chức nơi làm thủ tục cấp CMND tại xã, phường, thị trấn.
Đa số ý kiến cho rằng, nên lấy tên gọi của giấy chứng nhận căn cước công dân là ""Chứng minh nhân dân"; tuy nhiên, có ý kiến đề nghị đổi tên "CMND" thành "Thẻ căn cước công dân". Chính phủ thấy rằng, về bản chất, CMND chính là thẻ căn cước công dân. Tuy nhiên, tên gọi "Chứng minh nhân dân" đã được sử dụng rộng rãi từ lâu và trở nên quen thuộc đối với tất cả mọi công dân Việt Nam