Người nhen ngọn lửa khởi xướng phong trào "Ba sẵn sàng"

Thạc sĩ Nguyễn Bá Cường - Bí thư Đoàn trường ĐHSP Hà Nội -cho tôi biết người Bí thư Đoàn trường khởi xướng phong trào từ "Tam bất kì", "Ba bất kì" đến "Ba sẵn sàng" đó là GS Trịnh Ngọc Trình. Chính GS Trịnh Ngọc Trình, sau hôm nhận được tin đồng chí Đặng Xuân Rương mất, đã lên đề nghị với Trung ương Đoàn cho ông vào Nam chiến đấu.

Nhớ lại, chúng ta có những mất mát lớn quá. Hi sinh lớn quá. Mà bây giờ tôi còn sống. Tôi nghĩ, đáng lẽ người đó cũng được hưởng hạnh phúc gia đình như mình, tại sao bây giờ không còn nữa? Không. Tôi không thể không xúc động được. Tôi xúc động, có khi người ta không hiểu, người ta lại nghĩ rằng ông thấy bạn ông hi sinh bây giờ mới nhớ ông đã khóc. Thế còn triệu người khác, đồng chí của ông, đồng đội của ông đã hi sinh thì sao? Cho nên xúc động không phải đã là hay đâu. Nhưng đây là tình cảm, tôi không thể nào kìm nén được, GS Trịnh Ngọc Trình đã tâm sự với tôi như vậy.

Lần trang sử cũ

"Ba sẵn sàng" bắt nguồn chính từ phong trào thi đua yêu nước "Tam bất kì" và sau đó đổi gọi là phong trào "Ba bất kì" ở các chi đoàn, liên chi đoàn khoa của Trường ĐHSP Hà Nội: Đi bất kì nơi đâu Tổ quốc cần; Làm bất kì việc gì Tổ quốc giao phó; Vượt qua bất kì khó khăn gian khổ nào để hoàn thành nhiệm vụ.

Như ngọn gió thổi bùng bầu máu nóng, thổi căng sức trẻ, với sự lớn mạnh không ngừng và những kết quả to lớn thu được vào buổi tối ngày 30/4/1964, tại Nghĩa trang Mai Dịch, huyện Từ Liêm, Đoàn Thanh niên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội làm Lễ phát động "Phong trào Ba sẵn sàng". Đoàn viên thanh niên nhà trường đã tuyên thệ trước cờ Tổ quốc, cờ Đảng, cờ Đoàn và anh linh các liệt sĩ:

- Sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng nhập ngũ đánh thắng Đế quốc Mỹ xâm lược.

- Sẵn sàng hi sinh bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giải phóng miền Nam , thống nhất Tổ quốc.

- Sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì Đảng và nhân dân yêu cầu mà không đòi hỏi đãi ngộ.

"Sẵn sàng! Sẵn sàng! Sẵn sàng!" Tiếng hô đáp lại vang trời. Bảy nghìn đoàn viên thanh niên, bảy nghìn bó đuốc diễu hành từ Mai Dịch đến Dịch Vọng, sáng rực cả một góc trời phía Tây Hà Nội.

Từ sự thành công của phong trào "Ba sẵn sàng" Đoàn trường ĐHSP Hà Nội đề nghị Trung ương Đoàn và Thành Đoàn Hà Nội nhân rộng phong trào "Ba sẵn sàng" đến toàn thể thanh niên Thủ đô. Ngọn lửa "Ba sẵn sàng" đã bắt đầu bùng cháy trong trái tim đầy sức trẻ và nhiệt huyết của thanh niên Thủ đô, rồi lan rộng khắp cả miền Bắc.

Trong những năm tháng sôi động của khí thế "Ba sẵn sàng", Đoàn trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đóng góp tích cực cho phong trào với hàng nghìn đoàn viên và thanh niên có mặt trên khắp các trận tuyến: Tiền tuyến lớn miền Nam, chảo lửa khu Bốn, hải đảo, biên cương, trong mặt trận Khoa học - Kĩ thuật phục vụ xây dựng và chiến đấu, thậm chí ngay trên những nóc nhà cao tầng với trận địa phòng không dày đặc ở mảnh đất của Trường ĐHSP Hà Nội.

Nhiều cán bộ Đoàn trường đã hi sinh, nhiều người lại từ phong trào chiến đấu ác liệt mà trưởng thành lên như đồng chí Hoài Bảo - nguyên là Bí thư Tỉnh uỷ Lâm Đồng, đồng chí Kha Ba Tơ - nguyên Phó bí thư Tỉnh uỷ Kon Tum, đồng chí Hoàng Long - Phó Chủ tịch thành phố Đà Nẵng... Nhiều đồng chí xung phong đi miền Nam chiến đấu lại được phân công đi nước ngoài nghiên cứu, đã trở thành những Giáo sư, Viện sĩ như đồng chí Phạm Minh Hạc - nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục; Đinh Quang Báo - Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Đỗ Đình Thanh - Giám đốc Dự án Đại học - Bộ Giáo dục và Đào tạo...

Thạc sĩ Nguyễn Bá Cường - Bí thư Đoàn trường ĐHSP Hà Nội cho tôi biết nhân chứng lịch sử, người Bí thư Đoàn trường khởi xướng phong trào từ "Tam bất kì", "Ba bất kì" đến "Ba sẵn sàng" đó là GS Trịnh Ngọc Trình.

Bí thư Đoàn trường Trịnh Ngọc Trình tuyên bố phát động phong trào "Ba sẵn sàng" (30/4/1964) tại Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội.
Bí thư Đoàn trường Trịnh Ngọc Trình tuyên bố phát động phong trào "Ba sẵn sàng" (30/4/1964) tại Nghĩa trang Mai Dịch - Hà Nội.

Người nhen ngọn lửa “Ba sẵn sàng”

Tôi hơi sững người vì cánh tay trái của ông không còn nữa. Còn ông đã chủ động xiết chặt bàn tay phải ấm áp đón tôi vào trong căn phòng làm việc của mình thuộc Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục miền núi (HEDO) trên phố Trịnh Hoài Đức. Nghe xong câu hỏi về ấn tượng của ông về  phong trào "Ba sẵn sàng", GS Trịnh Ngọc Trình trầm giọng:

- Tôi không thể nào mường tượng nổi, sau lễ phát động, hàng nghìn sinh viên chích tay lấy máu viết đơn sẵn sàng đi bất cứ nơi nào Đảng cần, sẵn sàng chiến đấu hi sinh vì miền Nam ruột thịt, bảo vệ miền Bắc… Phong trào rực rỡ như thế khiến tôi choáng ngợp. Đây là ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi .

Ông vốn là chiến sĩ thuộc Tiểu đoàn 62, 87, Trung đoàn 34 chiến đấu ở Hà Nam Ninh. Cuộc đời người chiến sĩ đang say mê với những cuộc hành quân chiến đấu thì cuối năm 1952 ông được đoàn thể cử sang Trung Quốc học tập. Đồng chí chỉ huy nói với ông: "Chiến tranh rồi sẽ qua đi, bom đạn rồi sẽ thôi gào thét. Hòa bình lập lại cần nhiều người có chữ để xóa nhanh vết thương, xây dựng đất nước mạnh giàu, quân đội ta tiến lên chính quy hiện đại. Em sang nước bạn học tập cho giỏi, xứng đáng với niềm tin của đoàn thể, đơn vị". Thế là từ người lính cầm súng, ông trở thành người thầy giáo cầm bút chiến đấu xây dựng đất nước. Sau nhiều năm dài dạy học ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, ông được về ĐHSP Hà Nội học tập rồi trở thành giảng viên đại học và Bí thư Đoàn trường ĐHSP Hà Nội.

GS Trịnh Ngọc Trình cho tôi xem những kỉ vật một thời trai trẻ. Đó là những tấm ảnh nhỏ đã ố mờ bởi thời gian dài hơn nửa thế kỉ. Kí ức trong ông dần trở về, giọng ông như thủ thỉ, tâm tình:

- Trong những tấm gương về "Ba sẵn sàng" của trường, tôi đặc biệt ngưỡng mộ đồng chí Đặng Xuân Rương, Phó Bí thư Đoàn trường và đồng chí Tôn Thị Tĩnh - Bí thư liên chi đoàn khoa Hoá học hồi đó (nay bà là vợ nhà văn Nguyên Ngọc).

Cùng một lúc đồng chí Đặng Xuân Rương nhận được hai giấy gọi của cấp trên: Giấy gọi nhập ngũ và giấy gọi đi học nghiên cứu sinh tại Liên Xô. Đồng chí Rương đưa cho tôi xem và hỏi "Cậu định thế nào?"

Tôi nói: "Thật là nan giải! Cùng là yêu cầu của Đảng cả!".

Nan giải cái cóc gì? Vừa phát động phong trào "Ba sẵn sàng" xong. Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ hàng đầu! Đồng chí Bí thư quên rồi à? Hàng nghìn cán bộ, đoàn viên, thanh niên trường ta đã lên đường. Mình là Phó Bí thư cũng phải lên đường. Lời nói phải đi đôi với việc làm". Anh Rương nói với thái độ dứt khoát!

Tôi nảy ra sáng kiến: Hai quyết định đều của Đảng, vậy ta đến xin ý kiến Đảng, xin ý kiến "Anh cả" là chuẩn nhất - Tôi buột mồm gọi đồng chí Trường Chinh là "Anh cả" vì đồng chí là anh ruột Đặng Xuân Rương.

Nhưng rồi, cuối cùng Đặng Xuân Rương cương quyết lên đường. Một ngày trước khi rời Hà Nội vào mặt trận, anh đến chia tay với tôi. Anh mặc quân phục, đội mũ đeo sao nghiêm chỉnh. Hai đứa ôm chầm lấy nhau mà chẳng nói nên lời.

Đến cuối năm 1970, nghe tin anh hi sinh khi đang chỉ huy Tiểu đoàn chủ công của Sư đoàn 308 tiến đánh vào Khe Sanh, tôi lặng người, xỉu đi. Tỉnh dậy thấy mình đang nằm ở bệnh viện. Tôi nghĩ tới ngày cưới của Rương dự định vào dịp Lễ Noel sắp tới mà trào nước mắt. Nhiều đêm mơ thấy anh trở về Văn phòng Đoàn trường Đại học Sư phạm chúng tôi.

GS Trịnh Ngọc Trình nghẹn ngào. Ông rút khăn tay lau nước mắt. Lúc lâu sau ông mới trấn tĩnh lại, nhưng vẫn chưa hết xúc động:

- Bây giờ nói lại tôi dễ xúc động bởi vì phong trào thì rất lớn, mất mát đối với tôi cũng là rất lớn, qua thời gian nó lắng đọng lại. Chính vì những mất mát ấy nên phong trào "Ba sẵn sàng" mới rạng rỡ. "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai", đấy chỉ là một mặt thôi. Còn bao núi xương sông máu đổ xuống, mới có độc lập hôm nay.

Lửa thiêng trao tay thế hệ trẻ

 "Ba sẵn sàng" như khối nam châm mang từ trường cực mạnh, có sức cuốn hút thanh niên, ai cũng muốn hiến dâng. Hiến dâng tự nguyện, dù biết đó là đi vào chỗ chết. Chính GS Trịnh Ngọc Trình, sau hôm nhận được tin đồng chí Đặng Xuân Rương mất, đã lên đề nghị với Trung ương Đoàn cho ông vào Nam chiến đấu. Nhưng đồng chí Doãn Thế Thời, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đoàn đã không đồng ý với lí do: "Ông chiến đấu hi sinh trong kháng chiến chống Pháp rồi!".

- Thưa giáo sư, vì sao phong trào "Ba sẵn sàng" lại có sức hấp dẫn, cuốn hút thanh niên đến mê hồn như thế và hiệu quả lại lớn lao như thế?

- Theo tôi, phong trào đáp ứng được nguyện vọng bức xúc của thanh niên. Khi nước nhà lâm nguy, ý chí quật cường, lòng tự tôn dân tộc, khí phách anh hùng của tuổi trẻ Việt Nam bùng dậy. Phong trào "Ba sẵn sàng" phát ra, thanh niên ào ào nhập vào như những dòng suối đổ vào sông, sông đổ ra biển cả. Nhưng điều quan trọng nữa là nội dung "Ba sẵn sàng" của Đoàn ta đã mang được tầm vóc của đất nước, của lịch sử, nâng thanh niên lên ngang tầm của thời đại lúc bấy giờ... Cứ như thế mà phong trào "Ba sẵn sàng" đã phát triển, lớn mạnh không ngừng, trở thành cao trào cách mạng của thanh niên, của dân tộc Việt Nam đánh thắng đế quốc Mỹ.

GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, Hiệu trưởng ĐHSPI tặng hoa chúc mừng cựu Bí thư Trịnh Ngọc Trình nhân ngày kỷ niệm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, Hiệu trưởng ĐHSPI tặng hoa chúc mừng cựu Bí thư Trịnh Ngọc Trình nhân ngày kỷ niệm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

- Đoàn Thanh niên hiện nay, làm sao phát động được "Ba sẵn sàng" trong thế kỉ XXI như thời của giáo sư?

- Tất nhiên hai giai đoạn có khác nhau. Đoàn Thanh niên hiện nay cần tìm được những hình thức, tìm được những nội dung mang tính tầm cỡ của đất nước, của dân tộc.

Bây giờ mình không chỉ hướng vào hi sinh về thân thể mà phải hướng về tương lai, những vấn đề mà thế hệ trước chưa làm được. Ví dụ như bây giờ Hà Nội đi đầu phát động phong trào toàn thể thanh niên Việt Nam học tiếng Anh chẳng hạn thì đó cũng là một cái đòn bẩy mới. Như ông Lý Quang Diệu nói với các nhà lãnh đạo của nước ta: " Singapore lên được như bây giờ là ngày ấy chúng tôi đặt vấn đề học tiếng Anh là Quốc ngữ".

Tôi tin rằng, phát động phong trào học ngoại ngữ trong thanh niên cả nước rất ý nghĩa và thiết thực

Hà Nội, 20/3/2011

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.