Nhà văn Chu Lai:

Người lính đặc công chiếm cầu Ghềnh cho đại quân đi qua sáng 30-4-1975

Nổi danh với hàng loạt cuốn tiểu thuyết và kịch bản phim, sân khấu, nhà văn Chu Lai - tác giả của “Nắng đồng bằng”, “Vòng tròn bội bạc”, “Ăn mày dĩ vãng” vv… còn là một người lính đặc công vào sinh ra tử một thời ở vùng ven Sài Gòn suốt 10 năm trước ngày đất nước thống nhất. Đặc biệt, ông còn có những kỷ niệm nhớ đời đúng vào thời khắc lịch sử của đất nước, ngày 30-4-1975.

1. “Chưa có một cuộc chiến tranh nào dài như cuộc chiến tranh Việt Nam kháng Mỹ. Cũng chưa có người lính nào chịu nhiều áp lực trận mạc như người lính quân giải phóng, trong đó có tôi. Chúng tôi 3 lần ra khỏi rừng với niềm hy vọng thế là chiến thắng, sẽ không bao giờ có cú mã hồi tức tưởi nữa thì 2 lần tan hoang lặng lẽ, ôm đầu máu trở về rừng. Đó là Mậu Thân 1968 và Hiệp định Paris.

Mỗi lần trở về là mỗi lần tan hoang lòng dạ, ngơ ngác, hụt hẫng đến cả mấy tháng trời mới lấy lại được cân bằng. Đó là giai đoạn rất dễ tan rã về ý chí. Chúng tôi lại trở về rừng, moi lại gạo, vũ khí, xẻng cuốc đã vứt xuống đáy sông Sài Gòn âm ẩm tiếng bìm bịp kêu trong lòng nước và tiếng tắc kè khàn khàn đếm tuổi nẫu ruột trên chạc cây để tiếp tục làm người cầm súng tử tế.

Nhà văn Chu Lai.
Nhà văn Chu Lai.

Chính vì vậy mà vào đợt tổng tiến công 30-4-1975 thì người lính bỗng trở thành nửa tin nửa ngờ, sự xuống đường cũng không ắp đầy khát vọng như những lần trước, không ngờ lại là lần ra khỏi rừng cuối cùng để làm người chiến thắng” – nguyên Đại đội trưởng Đại đội đặc công, người từng được kẻ thù treo giải lấy đầu năm nào mở đầu câu chuyện về ký ức xa xưa ấy một cách nhẹ nhõm như câu chuyện ấy đã qua lâu rồi, cũ rồi, nhắc lại cho vui.

Chu Lai bảo, 10 năm làm lính đặc công luôn đối mặt với cái chết, nhưng chưa khi nào ông phải rơi nước mắt, kể hàng trăm lần tự tay chôn đồng đội, bởi ông quan niệm “chiến tranh là ngày nào cũng chôn nhau nhưng chưa đến lượt chôn mình”. “Với tôi, mỗi cái chết của đồng đội đều nặng nề, im lìm, không còn có thể khóc được nữa vì nỗi đau lặn vào trong, vì suy nghĩ nhuốm một chút ngang tàng lính chiến mày chết hôm nay thì mai đến lượt tao, khóc khiếc gì, vớ vẩn! Vậy mà đêm hoà bình đầu tiên sau ngày 30-4-1975, vào đến Sài Gòn, một mình trên võng nằm giữa phố đông tôi đã khóc. Khóc cho những đồng đội đêm nay đang nằm cô quạnh giữa rừng già”.

Ánh mắt người cựu binh bỗng lắng xuống trong những câu chuyện của ký ức hừng hực lửa một thời tuổi trẻ mà ông đã sống và chiến đấu - một quá khứ  đầy bi tráng. Cái thời anh lính Chu Lai suốt ngày quần cộc, áo Mỹ, mũ lưỡi trai Mỹ, người đen cháy vì nắng gió sông nước, phóng khoáng, râu ria, bụi bặm  như một gã “bohemieng” lẩn khuất trong các cánh rừng lá thấp bên sông Sài Gòn.

Từng có vài năm chủ lực, 5 năm là lính đặc công ở vùng ven, Chu Lai và đồng đội đã phải sống và chiến đấu trong hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo. Buổi sáng thức dậy, cho hết tư trang vào thùng đại liên Mỹ rồi nhấn chìm xuống lòng sông Sài Gòn để cất giấu, rồi ngồi ôm súng yên lặng dưới những bụi cây rậm rạp, trong khi dưới sông thì tàu địch tuần tiễu, còn trên bờ, cách chỉ chục mét là những toán thám báo, biệt kích lăm lăm súng đi tuần.

Cầu Ghềnh, Biên Hòa 1971. Ảnh: tư liệu
Cầu Ghềnh, Biên Hòa 1971. Ảnh: tư liệu

Chu Lai cười: Tưởng sau 5 năm ngồi thiền như thế chúng tôi phải biến thành Phật, thành sư sãi, nhưng rồi sau trận mạc vẫn nguyên như thế. Vẫn nóng nảy, vẫn bộc trực và động tý là cáu kỉnh không quen giấu giếm mọi suy nghĩ trong lòng mình,

Chiều 29-4-1975, đại đội đặc công của Chu Lai nhận lệnh lên đường chiếm bằng được cây cầu Ghềnh để đại quân ta tiến vào Sài Gòn. Đêm ấy, dưới sự chỉ huy của Chu Lai, đại đội đặc công chỉ còn lại hơn 10 người ấy lặng lẽ xuyên vào màn đêm đen đặc, nhanh chóng chiếm được chiếc cầu huyết mạch. Đêm chầm chậm trôi qua trong sự chờ đợi của những người lính thiện chiến đang chốt trên cầu Ghềnh.

Với đặc công, nương vào bóng đêm chiếm một cây cầu không khó nhưng giữ được cầu lại là chuyện không thể. Thế mà 5h sáng vẫn chưa thấy có dấu hiệu của đại quân ta, trong khi xa xa, lấp ló hàng trăm chiếc nón sắt của lính Sài Gòn rập rình tái chiếm cầu. Thời gian trôi qua nặng nề như có tiếng cười man dại của thần chết. Trời sáng bửng vẫn bặt vô âm tín.

Giữa lúc căng thẳng nhất, bỗng trong lòng đất nghe ầm ì tiếng của xe pháo di chuyển. Cả đại đội cùng hướng mắt về phía Biên Hoà và như ngộp thở khi thấy bụi đỏ cuộn lên giữa thấp thoáng những chiếc xe tăng, cờ mặt trận kiêu hãnh tung bay trong gió. Khi đại đoàn quân kéo qua, những người lính đặc công trong tâm trạng chết đi sống lại ấy đã bộc lộ niềm vui sướng tột đỉnh với những trạng thái khác nhau.

Người leo lên thành cầu nhảy xuống sông, người đứng bên thành cầu hét toáng lên những câu mà bình thường họ khó có thể hét to đến muốn xé toang lồng ngực được như thế. Còn đại đội trưởng Chu Lai thì ngồi lịm đi trong làn khói thuốc rê với niềm xúc động không nói thành lời.

Bao năm chiến đấu chỉ khao khát được một lần nhìn thấy quân chủ lực của ta, giờ đã thỏa. Rồi lại được thực hiện khát vọng trước đó tưởng không bao giờ thành hiện thực, là được một phút “bay” trên đường 13 trên những chiếc xe máy mượn của dân thì chết cũng… vui, khi bị hút theo đại đoàn quân về Sài Gòn. Đêm ấy, lần đầu tiên sau suốt 10 năm cầm súng, căng mình để sống, để chiến đấu, để tồn tại bằng tất cả bản năng tự vệ, người đại đội trưởng ngang tàng ấy lại… đổ bệnh.

Và khi đặt chân vào Sài Gòn, người lính vùng ven lạ lẫm khi thấy hình ảnh một khuôn mặt Tây đen choán hết bức tường ngôi nhà trung tâm thành phố, phía dưới là hàng chữ “Thuốc đánh răng Hynos” mà không biết đấy là hình ảnh của một cơ chế thị trường trong tương lai dân tộc phải đi đến…

2.Rời bỏ thánh đường sân khấu, xung phong ra trận bằng chí trai thời loạn, bằng cả sự lãng mạn là chỉ để cho đôi mắt người yêu ở lại được yên tĩnh. Sự lãng mạn đó vẫn theo ông suốt những năm tháng chiến tranh, là điểm tựa để ông vượt qua bao nhiêu thử thách. Chu Lai bảo, không lãng mạn tột độ, làm sao ông sống được 10 năm trong hoàn cảnh khắc nghiệt như thế.

Hết chiến tranh, đồng đội vẫn trong cơn ngất ngây từ rừng xuống phố, thì ông, nghe theo lời khuyên của cha - nhà viết kịch nổi tiếng Học Phi –lại lao vào viết, để thỏa niềm đam mê văn chương từ hồi rất trẻ, đến mức, những lần phải về rừng chờ bổ sung quân, ông cũng viết âm thầm, để lấp đầy sự im lặng, để cứu rỗi linh hồn sau những trận đánh chứ có điều kiện gửi đi in ấn gì đâu. Giờ có cơ hội, ông viết bằng sự dồn nén của bao năm tháng, bằng sự đổ về cuồn cuộn của dòng kỷ niệm …

Ký ức ám ảnh mà ông đã trải qua trong cuộc chiến in hằn trong từng trang viết, từ tình yêu chớp nhoáng trong hầm giữa hai đợt pháo với người nữ y tá, đến những cái chết của đồng đội, bất ngờ và khốc liệt, đã làm nên những chi tiết đắt giá trong các sáng tác của ông.

Hiện thực cuộc sống mà Chu Lai đã trải qua lặng lẽ và ồn ào đi vào từng trang viết. Đó là người lính lau súng B41 trước trận đánh bị cướp cò, làm nổ tung một đồng đội ngay trước mắt Chu Lai. Nhìn người lính ruột gan bay hết ra ngoài, máu đỏ nhòe bể nước, đau đớn thắt lòng mà không thể làm gì được, đành đặt bạn nằm xuống, lấp đất lên trong sự câm lặng tận cùng.

Ông bảo, những hình ảnh đó bò trong ký ức của ông suốt bao năm qua, leo vào từng con chữ, từng trang viết với nỗi ám ảnh không nguôi… Hay một người lính đi đánh trận về, hào hứng kể cho các cô du kích nghe chuyện mình rút chốt lựu đạn rồi nhưng thấy địch chết hết, lại nhét vào túi mang về. Kể đến đây, anh chàng vô tình thò tay vào rút quả lựu đạn ra, đúng lúc chiếc mỏ vịt bật mở và anh ra đi như trở về với sự vô tăm vô tích…

Những cảm xúc xô bồ, vốn sống dâng trào, nỗi đau và nét lãng mạn hào sảng đan xen của hiện thực phong phú đã làm nên những dấu ấn ban đầu là các truyện ngắn đăng trên báo Văn nghệ như “Kỷ niệm vùng ven”, “Anh Hai Đởm”, “Lửa mắt”… để rồi lọt vào mắt xanh của Tổng cục Chính trị qua nhà văn Hồ Phương và Xuân Thiều, được “chiêu hiền đãi sĩ” về với “ngôi nhà số 4” -Tạp chí Văn nghệ Quân đội.

Như “hổ về rừng”, ngày trước gác bút nghiên theo việc đao binh, giờ lại cầm lấy cây bút làm vũ khí của mình, những sáng tác của ông nhanh chóng làm nên tên tuổi Chu Lai với một phong cách rất riêng, sừng sững trong dòng văn học chiến tranh cũng như thời bình bởi tính chân thực, đa dạng, đi đến tận cùng câu chữ để miêu tả góc khuất trong cõi sâu con người.

Dạ Miên

Các tin khác

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Sinh kế dưới những tán rừng giữa đại ngàn Trường Sơn đang... mỏng dần

Ở nơi đại ngàn Trường Sơn của xã Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị vẫn phủ một màu xanh trải dài đến tận chân trời, rừng từ lâu đã trở thành kho sinh kế của đồng bào Bru - Vân Kiều. Từ những sợi mây rừng, giọt mật ong, búp măng đến những chiếc lá thuốc giữa tầng cây cổ thụ…, những sản vật dưới tán rừng đã âm thầm nuôi sống bao thế hệ người dân bản địa.

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Bài cuối: Làm thế nào để mở khóa những cửa biển bị bồi lấp?

Những lần khơi thông cửa biển Cửa Việt, Lý Hòa cho thấy nạo vét chỉ có thể giải quyết phần ngọn nếu không đi cùng các giải pháp căn cơ. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, lượng cát bồi lắng vẫn tiếp tục tìm đường trở lại, đẩy các cửa biển vào vòng luẩn quẩn “khơi thông – bồi lấp – khơi thông”.

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Bài 1: Luồng biển cạn, con đường mưu sinh bị chặn lại

Từ Cửa Việt đến Lý Hòa, những cửa sông, cửa biển từng là lối ra khơi, nơi kết nối hoạt động khai thác thủy sản, vận tải biển và đời sống cư dân ven biển, đang bị bồi lấp nghiêm trọng. Khi luồng lạch bị thu hẹp, phía sau những doi cát không chỉ là những con tàu mắc cạn, mà còn là sinh kế của hàng nghìn người dân bị ảnh hưởng.

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Cồn Cỏ – nơi người sống cùng nhịp thở của biển

Giữa vùng biển phía Đông tỉnh Quảng Trị, đảo Cồn Cỏ hiện lên như một chấm xanh giữa trùng khơi. Từ lâu, hòn đảo tiền tiêu này được biết đến như một pháo đài nơi đầu sóng, một địa danh ghi dấu những năm tháng chiến tranh ác liệt. Hôm nay, bên cạnh giá trị về quốc phòng, chủ quyền, Cồn Cỏ đang viết tiếp câu chuyện mới về gìn giữ những giá trị của biển, bảo vệ hệ sinh thái và phát triển hài hòa với thiên nhiên.

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Tìm đồng đội, nối những cuộc đoàn viên từ đại ngàn Trường Sơn

Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính liệt sĩ vẫn được các lực lượng chức năng kiên trì thực hiện. Trên những địa bàn từng là chiến trường ác liệt ở phía tây Quảng Trị, cán bộ, chiến sĩ ngày đêm lần tìm từng dấu tích đồng đội. Cùng với đó, lực lượng Công an đẩy mạnh thu nhận mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, góp phần nối lại những cuộc đoàn viên còn dang dở sau chiến tranh.

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữ hồn xưa bên dòng Ô Lâu

Giữa miền quê ven sông Ô Lâu, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, làng cổ Hội Kỳ vẫn còn lưu giữ nhiều ngôi nhà rường hàng trăm năm tuổi – những dấu tích hiếm hoi của một không gian văn hóa xưa cũ còn sót lại. Sau hơn 5 thế kỷ hiện diện, những mái ngói rêu phong, cột kèo gỗ mít sẫm màu thời gian vẫn lặng lẽ đứng đó như một phần ký ức làng quê.

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Nỗi đau sau song sắt của người mẹ lầm lỡ

Cơn mưa chuyển mùa bất chợt đổ xuống cao nguyên, những hạt mưa lách qua khung cửa sắt, rơi lộp độp xuống nền xi măng lạnh. Trong góc buồng giam ở Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Lâm Đồng, phạm nhân Huỳnh Thị Thanh Thảo (SN 1985, trú xã Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) lặng lẽ ngồi nhìn ra khoảng trời xám đục ngoài ô cửa nhỏ.

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Hành trình trưởng thành của nữ phạm nhân hưởng chính sách khoan hồng

Biết mình là một trong những phạm nhân đủ điều kiện được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong đợt này, nữ phạm nhân Trần Ngọc Minh Anh (SN 2006, trú tại phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng) đã không giấu được những giọt nước mắt vỡ òa sau quãng thời gian dài sống trong day dứt và ân hận.

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Nỗi đau ở Sông Lô và lời cảnh tỉnh không thể chậm trễ

Chưa bao giờ ở xã Sông Lô, tỉnh Phú Thọ lại có đến nhiều đám tang cùng một lúc như vậy. Có tới 5 gia đình cùng chung một nỗi đau vô tận khi đột ngột mất đi người con trai yêu quý trong buổi chiều định mệnh. Lá vàng tiễn mái đầu xanh, tiếng khóc gọi tên con nghe quá xót xa.

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Mạch sống chảy mãi giữa đại ngàn Trường Sơn

Tháng 5 về, nắng vàng như rót mật trên những sườn đồi phía Tây TP Đà Nẵng. Giữa màu xanh ngút ngàn của dãy Trường Sơn hùng vĩ, đồng bào các dân tộc lại rộn ràng chuẩn bị cho một ngày lễ đặc biệt trong trái tim mình: Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026).

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Đổi thay, phát triển ở vùng căn cứ cách mạng Vùng Bưng 6 xã

Vùng Bưng 6 xã vốn là căn cứ cách mạnh gắn liền với những trang sử đấu tranh kiên cường của quân dân ta qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đây không chỉ là căn cứ lưu giữ giá trị lịch sử, truyền thống yêu nước, Vùng Bưng đầy lau sậy, cỏ cây xưa kia nay vươn mình mạnh mẽ với tốc độ phát triển kinh tế, văn hóa, đô thị và công nghiệp.

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Linh thiêng nguồn nước giữa đại ngàn

Sương sớm còn vương trên những tán rừng già, giăng thành lớp màn mỏng bảng lảng phủ xuống buôn làng. Từng mái nhà dài của người Mnông ở xã Đam Rông 4 (Lâm Đồng) lặng lẽ thức giấc trong tiếng gà rừng gọi sáng, trong mùi khói bếp len qua vách gỗ. Con đường đất đỏ dẫn xuống bến nước diễn ra lễ cúng hôm nay bỗng trở nên rộn ràng khác lạ!

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa, biểu tượng của ý chí kiên cường và nghệ thuật chiến tranh nhân dân

Địa đạo Phú Thọ Hòa là một công trình quân sự trong lòng đất tại phường Phú Thọ Hòa, TP Hồ Chí Minh. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, địa đạo Phú Thọ Hòa là điểm trú ngụ của bộ đội chủ lực, được các đơn vị đặc công biệt động của cách mạng dùng làm bàn đạp tấn công vào nội thành Sài Gòn như: Trung đoàn Phạm Hồng Thái, Tiểu đoàn Ngô Gia Tự. Đồng thời, địa đạo cũng là cái nôi đảm bảo cho nhiều cán bộ quân dân chính đảng các cấp về dừng chân hoạt động tại đây.

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.