Chị chỉ huy một đội quân gồm hơn 30 tay thợ lặn có nghề. Không chỉ các công ty tư nhân, ngay cả các cán bộ ở Bộ Quốc phòng, Cục Quản lý đường sông cũng đến hợp đồng với đội lặn của Mười Duyên để trục vớt tàu chìm, khơi thông những lòng sông.
Sinh ra là con thứ 9 trong một gia đình nông dân ở miệt Châu Thành (Cần Thơ), nay thuộc tỉnh Hậu Giang, Đàm Thị Duyên (hay còn gọi là Mười Duyên) là một thôn nữ có sắc đẹp. Duyên bỏ Cần Thơ lên Sài Gòn sau khi cha bị bom Mỹ chết, gia đình tứ tán. Long đong lận đận, Duyên phải đi buôn thúng bán bưng ở cái tuổi chưa tới 20. Có mơ, Duyên cũng không dám mơ một ngày sẽ lấy được một tấm chồng danh giá.
Vậy mà không biết trời Phật run rủi thế nào, Duyên lại “có nợ” với Quang Vĩnh Điền, một thương nhân Hoa kiều ở Chợ Lớn. Mặc cho gia đình ngăn cản vì người Hoa, người Việt, anh Điền vẫn quyết tâm lấy cô gái ngày ngày quẩy gánh đi ngang qua cơ sở sản xuất nhựa nhà anh, làm vợ.
Năm 1984, khi cả đại gia đình anh Quang Vĩnh Điền sang Mỹ định cư, anh Điền vẫn quyết định ở lại Việt
Sông Cửa Lớn và chuyện sinh nghề tử nghiệp
Bây giờ, Mười Duyên ở căn nhà số 99 trong một con đường nhỏ thị trấn Năm Căn, ngay sau lưng nhà là sông Cửa Lớn, phế liệu, máy móc chất đầy ra lối đi. Ngôi nhà chỉ có một người đàn bà, lạnh tanh một màu sắt thép.
Sông Cửa Lớn là một con sông rất lạ, chỉ dài hơn 56 km, nó bắt đầu từ biển rồi lại trở về với biển, từ cửa biển Bồ Đề ở biển Đông đổ về cửa biển Ông Trang ở biển Tây, chia cắt vùng Đất Mũi với đất liền, tách vùng Đất Mũi thành một hòn đảo nhỏ, cắt khu rừng ngập mặn Năm Căn ra làm hai mảng. Huyện Năm Căn khởi nguồn từ xã Năm Căn.
Cái tên Năm Căn có từ khi dân tứ xứ đến đây lập nghiệp, họ thấy trên bờ sông Cửa Lớn chỉ có độc một cái lán năm gian của những người tới đốn củi hầm than dựng lên, họ gọi đó là Năm Căn. Dòng sông Cửa Lớn mênh mông nước, nước ầm ầm cuộn sóng đổ ra biển ngày đêm như thác.
Mười Duyên đã ngụp lặn ở lòng sông Cửa Lớn gần nửa cuộc đời, chị cao tới gần 1,7m, cao hơn nhiều so với chuẩn của người phụ nữ Việt, nhưng trước sông Cửa Lớn chị cũng chỉ là một sinh linh quá nhỏ bé, ấy vậy mà chị rành lòng sông Cái Lớn như lòng bàn tay.
Trong chiến tranh, Đất Mũi là vùng căn cứ của đường Hồ Chí Minh trên biển, quân đội Mỹ từng mở một chiến dịch gọi là Hạm đội nhỏ trên sông, cứ vài phút có một chiếc tàu chiến chạy qua dòng sông Cửa Lớn. Quân Mỹ quyết tâm cắt đứt đường tiếp tế lương thực của ta qua đường sông này. Kết quả là, bộ đội ta đã đánh chìm xuống dưới đáy sông Cửa Lớn hàng chục tàu Mỹ.
Chiến tranh kết thúc, số tàu Mỹ trở thành “kho báu” đối với những đội lặn trục vớt phế liệu như của anh em Mười Duyên. Đấy cũng là lý do cho bến đỗ cuối cùng của người đàn bà lặn Mười Duyên.
Còn nghề trục vớt tàu chiến khởi đầu từ ông Hai Thợ Lặn, miệt Hồng Ngự, Đồng Tháp, việc trục vớt những con tàu được thực hiện rất công phu: sau khi xác định vị trí, độ nghiêng, độ lún của con tàu, phải dùng máy bơm hút hết số bùn lắng ra khỏi các khoang tàu, đội lặn phải nhận chìm các thùng phuy, cột chắc các thùng phi vào thành tàu rồi bơm hơi đẩy nước ra khỏi các thùng phuy. Cứ thế cho đến khi số thùng phuy đủ sức nâng con tàu nổi lên mặt nước.
Khởi đầu với nghề lặn trục vớt tàu, Mười Duyên không hề biết... lặn nhưng bơi rất giỏi, vợ chồng Mười Duyên chỉ là những thầu trục vớt. Có lần, thợ lặn chểnh mảng, hợp đồng bị quá hạn, vợ chồng Mười Duyên phải đền bù hợp đồng cho người ta, nhưng mấy tay thợ lặn không hề nhận trách nhiệm về mình, họ viện đủ lý do, nào là tàu lún quá sâu, khó trục vớt...
Nghe thì biết mấy thợ nói không thật, nhưng chúng nói chuyện ở dưới làn nước, biết thế nào là thật hay không, máu nóng giần giật trong người, Mười Duyên tuyên bố sẽ không để thợ lặn qua mặt một lần nữa. Nói rồi, Mười Duyên cầm ống hơi nhảy ùm xuống nước, lặn xuống hơn một thước, ngộp, muốn trồi lên nhưng lại nghĩ, người ta làm được thì mình làm được, thế là Mười Duyên lại ngậm chặt ống hơi trong miệng lặn một hơi xuống thăm thẳm. Mười Duyên trở lên trên bờ với cái nhìn thán phục của cánh thợ lặn, đận ấy cũng hơi xây xẩm mặt mày nhưng chị thấy rất thú vị.
Những chuyến trục vớt sau, Mười Duyên trực tiếp lặn xuống để kiểm tra, trong nghề gọi là lặn thăm dò, nghề lặn đối với đàn ông sức vóc đã khó, đối với phụ nữ thì thiên nan vạn nan, bởi không phải là lặn khơi khơi ở trên mặt nước, có khi phải lặn xuống độ sâu hàng chục thước, áp suất nước có thể làm bể màng nhĩ, vỡ mạch máu mà chết.
Dưới độ sâu hàng chục thước, nước đục ngầu, thợ lặn chỉ lấy chân tay làm mắt, gắn ống hơi vô miệng để thở riết rồi cũng thành quen. Đâu ai ngờ được, sau những lần lặn ấy, một người phụ nữ như Mười Duyên lại trở thành nữ thợ lặn có nghề ở vùng Năm Căn và có lẽ của cả miệt sông nước miền Tây.
Mười Duyên kể, lần đầu tiên lặn xuống làm việc dưới nước, tối om om, rờ vô những xác tàu thấy lạnh tanh cũng thấy sợ. Rồi những lần mò vô mấy khoang tàu nắm vào xương người chết hàng chục năm về trước thì càng sợ, nhưng dần dà cũng quen, rồi cảm thấy bình thường, giống như mình xuống “lãnh địa” của riêng mình.
Chúng tôi từng có mặt ở quần đảo Phú Quốc, tiếp cận với làng lặn Hòn Ngang, được coi như một đảo lặn ở vùng biển Tây và nghe rất nhiều câu chuyện thương tâm về nghề lặn. Người dân vùng này thường lặn để mò điệp, san hô và cả cổ vật. Tiền công có khi lên đến hàng triệu đồng một ngày.
Cũng chính vì thế, không biết bao nhiêu thợ lặn đã vĩnh viễn bỏ mình trong lòng biển cả mênh mông, có gia đình 6 người thì 2 người ra đi vì nghề lặn. Có người bị áp suất nước làm vỡ mạch máu, chết ngay khi còn ở dưới nước, có người “may mắn” hơn thì được vớt lên trên tàu mới “trào máu mũi”, không chết nhưng... liệt nửa người. Người ta nói rằng, không nghề gì dễ “tử nghiệp” hơn nghề lặn. --PageBreak--
Đời nghề lặn của Mười Duyên gắn liền với người anh trai mình, Đàm Văn Đức, còn gọi là Tám Đức, chính Tám Đức đã “dạy” cho cô em gái những bước đầu tiên dò dẫm dưới nước. Thời chiến, Tám Đức từng là lính đặc công thủy thuộc Quân khu 9. Hòa bình, anh theo luôn nghề thợ lặn. Cha mẹ Mười Duyên sinh cả thảy 13 người con. Thời chiến, các anh trai của Mười Duyên theo cách mạng hy sinh gần hết, không ít người nằm lại cho miền Tây thanh bình, nhưng cũng có người nằm trên dãy Trường Sơn xa xôi. Cả gia đình tứ tán chỉ còn Tám Đức và Mười Duyên, hai anh em đùm bọc nhau mà sống.
Nghe hỏi về Tám Đức, Mười Duyên chỉ tay về biển phía
Mười Duyên còn nhớ rõ lắm, ngày ấy vào tháng 6/2000, anh Tám nhận trục vớt một tàu hàng bị chìm ngoài cửa biển. Mười Duyên ở nhà tự nhiên thấy lòng mình nóng như lửa đốt. Đang tính gọi điện ra hỏi tình hình thì nghe "lính" báo rằng Tám Đức gặp tai nạn, bị áp suất nước, máu trào ra đầy mũi, đầy tai. Mười Duyên tức tốc xuống xuồng cao tốc phóng ra cửa biển.
Tám Đức vì cố xuống sâu nơi xác tàu bị chìm, trở lên không kịp, khi Mười Duyên gặp được, Tám Đức không còn nghe được gì nữa, trong tay Mười Duyên, Tám Đức thanh thản ra đi. Ai ngờ được, Tám Đức cả một đời ngụp lặn, ngang dọc khắp miền sông nước này như con rái cá lại bỏ mạng dưới làn nước. Sông Cửa Lớn vẫn ầm ầm đổ ra biển.
Cái chết của Tám Đức khiến Mười Duyên suy sụp, chị quyết định bỏ nghề lặn, giải tán đội lặn, bán hết đội tàu trục vớt. Cùng lúc ấy, gia đình chồng bên Mỹ đã hết lời thuyết phục gia đình Mười Duyên sang Mỹ định cư. Vốn là người con hiếu đễ, cha mẹ tuổi lại cao, anh Quang Vĩnh Điền đã quyết định đưa cả gia đình sang Mỹ. Tháng 9- 2000, Mười Duyên đồng ý cùng chồng sang Mỹ nhưng với một điều kiện là chị vẫn giữ quốc tịch Việt Nam.
Trở về với Năm Căn và cái nghiệp lặn
Bây giờ, đã hơn 3 năm tính từ cái ngày chị từ Mỹ trở về, nỗi nhớ chồng con cũng nguôi ngoai, nghe chị kể mấy ngày đầu, mẹ con cứ ôm điện thoại mà khóc, chị mạnh mẽ, lạnh lùng thật, nhưng đấy chỉ là cái vẻ “bên ngoài” thôi, rốt cuộc chị vẫn là một phụ nữ, cũng yếu đuối lắm, cũng nhớ chồng con đến quay quắt! Cứ vài tháng, góp gom được ít tiền chị lại “khăn gói quả mướp” sang thăm chồng con; ở được vài bữa lại nằng nặc đòi về. Chị luôn nhắc mấy đứa con chị, ráng học thành tài rồi về Việt
Dân Năm Căn bây giờ không còn lạ cảnh chị đi Mỹ như đi chợ nữa. Ngày ấy, cái tin Mười Duyên trở về làm không ít người ngạc nhiên, ai cũng tưởng cuộc sống phồn hoa bên Mỹ sẽ dễ dàng trói chân chị. Mười Duyên về ngày hôm trước, hôm sau chị tuyên bố khôi phục lại đội lặn.
Người ta gặng hỏi sao chị không ở bên Mỹ sướng hơn, về chi cho khổ? Mười Duyên cười: “Ai nói ở bên ấy sướng chớ tui thấy khổ lắm, ở bển không có bạn bè, hàng xóm láng giềng. Tiếng Mỹ của tui thì bập bõm. Con cái, vợ chồng đi mần ăn, học hành tối mày tối mặt, tui cũng phải đi làm thợ may. Cơ cực lắm! Tui nói với chồng, ở bên này chắc tui chết sớm, đắn đo mãi, thấy tui ngày một ốm o, xanh xao, anh ấy cũng đồng ý cho tui về Việt
Âëy là chị nói thế, chứ có người thì bảo chị đã “bén duyên” với sông Cái Lớn, với nghề lặn, xa nghề sao nổi.
Mấy ngày sau, người trong xóm thấy Mười Duyên rục rịch đi mua chiếc tàu trục cũ, lặn lội ngược xuôi gọi trở lại những anh em đã từng làm trong đội lặn của mình và Tám Đức ngày xưa. Mười Duyên về, mấy anh em trong đội lặn mừng lắm, từ ngày Mười Duyên giải tán đội lặn, anh em lưu lạc tứ xứ, phải làm đủ thứ nghề để kiếm ăn, nuôi vợ nuôi con qua ngày, cuộc sống không còn sung túc như ngày xưa.
Mười Duyên về, anh em thợ lặn cũng í ới kéo nhau về đầu quân dưới trướng Mười Duyên ngày một đông. Sau cái chết của Tám Đức, an toàn của anh em thợ lặn được Mười Duyên đặt lên hàng đầu. Chị lo cho họ từng đường ống hơi, từng viên thuốc, người thợ nào cảm thấy trong người không khỏe là chị cho nghỉ.
Ba năm rồi, nhờ tính chu đáo của người phụ nữ, anh em thợ lặn không hề gặp dù chỉ là một tai nạn nhỏ. Phương tiện hành nghề của đội lặn Mười Duyên hầu hết là đồ tự chế, một bộ tời chịu lực chạy bằng máy diesel, một giàn máy bơm để hút bùn, cắt lườn và bơm hơi. Mỗi con tàu, Mười Duyên đều phải trực tiếp lặn xuống để xác định vị trí, tọa độ, độ lún, độ nghiêng và rất nhiều thông số kỹ thuật khác để lên một phương án trục vớt.
Sự nổi tiếng của đội lặn của Mười Duyên đã vượt ra địa phận tỉnh Cà Mau. Mỗi tháng, đội lặn của chị nhận hàng chục hợp đồng, từ trục vớt tàu chiến, tàu hàng đến khơi thông dòng chảy của các con sông, đến cả truy tìm tung tích những người chết đuối. Có khi vớt được xác, thấy thân nhân của người xấu số quá nghèo, không nỡ lấy tiền công. Như lời Tám Đức từng nói với Duyên, nghề này có khi lặn vì tiền, có khi lặn chỉ vì nghĩa thôi!
Đầu tháng 11, chúng tôi gặp Mười Duyên ở bên bờ sông Cái Lớn, chị vừa từ Hòn Ngang trở về. Chị bảo chuyến này, đội lặn của chị đang trục vớt một chiếc tàu chiến M12 “hoành tráng”