Sau 30 năm miệt mài, ông đã thành công trong việc biến vùng đất chết thành một "ốc đảo khoa học", với bộ sưu tập tinh dầu đồng bộ nhất khu vực Đông Nam Á, trở thành nơi đất lành của muông thú; biến những người nông dân mù chữ thành công nhân kỹ thuật. Còn ông - ông "Ba ve chai" thân thương của bà con Đồng Tháp Mười trở thành Anh hùng lao động, dù vẫn ngày ngày xắn quần lội ruộng, lao động quần quật với anh em công nhân. Ông là Dược sỹ Nguyễn Văn Bé - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười, một trong 1.500 người con tiêu biểu của cả nước được về dự Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ VIII.
Bắt đất hoang thức giấc
Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười nằm trên kênh Nồi Gọ, huyện Mộc Hóa, Long An - bối cảnh trước đây của phim "Cánh đồng hoang", vốn là một "vùng đất chết" y như cái tên của nó. Nơi đây nước nhiễm phèn nặng, hầu như không loài cây nào sống được, quanh năm hoang hóa. Vậy mà đến nay, nó đã trở thành đất lành của tràm hương, của hàng trăm loài dược liệu quí, như hoắc hương, hà thủ ô, ngải tiên, nhàu rừng, mù u, diệp hạ châu, bạch đàn chanh... và cũng từng ấy loài chim.
Hiện trung tâm sở hữu 1.041ha, 19 giống tràm, trong đó có 800ha tràm hương thiên nhiên - "bảo bối" của trung tâm, là loại dược liệu đặc sản để bào chế tinh dầu. Trung tâm cũng bảo tồn thành công nguồn gen của 83 loài thực vật và 8 loài động vật làm thuốc. Từ đây hơn 30 sản phẩm, tinh dầu được chế biến hoàn toàn hữu cơ, cung cấp thành phẩm cho Xí nghiệp Dược Trung ương 25, Xí nghiệp Dược Domexco Đồng Tháp...
Đến nay, trung tâm đầu tư trang bị phòng thí nghiệm và xây dựng xưởng tinh chế tinh dầu hiện đại và đã sản xuất hơn 100 loại tinh dầu từ thiên nhiên như dầu tràm, dầu rau má, rau diếp cá... được xem là bộ sưu tập tinh dầu đồng bộ nhất Đông Nam Á, trong đó, khoảng 80% đang được sử dụng để phục vụ ngành dược phẩm. Trung tâm còn trực tiếp sản xuất nhiều loại thuốc chống ung thư, viêm siêu vi, sốt rét, viêm xoang, các loại rượu thuốc đặc trị và còn là nguồn cung cấp hương liệu cho những hãng dược phẩm nổi tiếng trên thế giới. Trung tâm là minh chứng hùng hồn của việc "có sức người sỏi đá cũng thành cơm".
Có được thành công đó là một chặng đường gần 30 năm đổ mồ hôi, sôi nước mắt của dược sỹ Nguyễn Văn Bé và nhiều người khác. Trong "Nhật ký" của trung tâm vẫn còn lưu giữ tâm trạng của ngày đầu tiên ông đến: "Chúng tôi đến vùng đất hoang hóa này ngày 20/1/1984, nhằm ngày 18/12/1983 âm lịch. Cơ ngơi của chúng tôi là cánh đồng hoang. Tất cả chúng tôi đến sống và làm việc ở mảnh đất này, đều xem lao động là quyền chính đáng của con người. Chính vì lẽ đó mà chúng tôi đã chịu đựng mọi thử thách của thiên nhiên. Chúng tôi bắt vùng đất hoang hóa này phải thức dậy để cùng chúng tôi cống hiến cho xã hội những sản phẩm có giá trị...".
Để "bắt vùng đất hoang thức giấc", ông đã cùng 3 kỹ sư khác nghiên cứu khai thác và bảo tồn khu rừng. Từ 4 người ban đầu phát triển dần dần theo thời gian có lúc đến 600 người. Bản thân ông đã tự thiết kế và thi công trong 16 năm đào đắp trên 100km kênh mương, thi công các nhà cửa, hãng xưởng, tự chế tạo hơn 70% thiết bị hiện có, biến nơi đây thành một vùng đất trù phú với nhà máy hiện đại.
Ông Giám đốc "ve chai" và những bí quyết dân gian
Về vùng đất của ông, sẽ thấy nhiều sự lạ. Ông giám đốc, nhà khoa học trông như một lão nông thực sự với nước da đen cháy, giọng nói sang sảng, suốt ngày xắn quần lội ruộng, nhảy xuồng, đi xe buýt, xe ôm. Ông bảo mình không thích xe hơi, vì "tốn". Thay vì gọi ông là giám đốc, bà con gọi ông là "ông Ba ve chai", "ông Ba Bé", "ông Ba đất phèn" vì ông có công biến đất phèn thành màu mỡ, lượm lặt những thứ rác rưởi tái chế thành những vật dụng có ích.
Ở đây, các cử nhân, nhà khoa học cũng lội ruộng, băng rừng thật lực, trong khi những người nông dân chân lấm tay bùn có thể nhoay nhoáy vận hành, thậm chí sửa chữa những cỗ máy phức tạp, hiện đại. Ông đã có công đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân lành nghề, với thu nhập hàng chục triệu đồng/tháng, từ những người nông dân có trình độ văn hoá thấp. Hơn 150 công nhân của trung tâm, ban ngày đi làm, buổi tối đến lớp học văn hóa. "Tôi muốn mang lại sự công bằng cho cả những người không có điều kiện học lên cao" - ông Ba nói. Bởi thế, ông còn đầu tư xây trường học, trạm xá tại đây để bà con có điều kiện sống tốt hơn.
Cũng như khi ông quyết tâm bỏ phố về rừng, dù bị nhiều người bảo "dở", bí quyết thành công của ông không phải từ sách vở, mà từ áp dụng những kinh nghiệm dân gian nhiều khi đã bị lãng quên. Minh chứng hùng hồn nhất là câu "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống". Vùng đất này toàn phèn, không cây cối nào sống được. Muốn cải tạo đất, ông đã cùng mọi người đào một hệ thống kênh mương hàng trăm kilômét để thau chua.
Cách đặt tên thuốc của ông cũng rất… dân gian. Với củ gừng, ông bào chế thành thuốc Ninon - tức… "nín nôn", trị chứng đầy bụng, buồn nôn. "Tui đặt tên thế để bà con dễ nhớ". Ông nghiên cứu sưu tầm các kinh nghiệm dân gian trong cộng đồng, dùng các phương tiện thiết bị hiện đại để nâng cấp ngành y học cổ truyền của dân tộc. Ông đã góp phần tái lập môi trường sinh thái Đồng Tháp Mười ngày xưa, kéo các loại chim đặc trưng quay về như: điên điển, giang Sen, trích, quốc, le le, vịt trời, còng cọc, các loại cò, diệc… biến "cánh đồng hoang" thành vùng đất lành