Về vấn đề nợ xấu và việc thành lập công ty mua nợ xấu của ngành Ngân hàng (NH), ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính tiền tệ Quốc gia cho rằng nợ xấu ở Việt Nam tăng là do 3 nguyên nhân.
Thứ nhất: Chính phủ quản lý lỏng lẻo. Thứ hai: Các tổ chức tín dụng tham lam (mở rộng cho vay, tăng tín dụng để tăng lợi nhuận, có nhiều khoản vay không đảm bảo thu hồi chắc chắn); các DN không có phương án sản xuất, kinh doanh tốt để có khả năng đảm bảo trả nợ (trong đó có nhiều khoản đầu tư của DN nhà nước kém hiệu quả, không trả được nợ).
Thứ ba là do cơ chế giám sát thiếu chặt chẽ để nợ xấu phát sinh lớn mà không có giải pháp ngăn chặn sớm. “Từ ba nguyên nhân đấy thì 3 chủ thể phải chịu trách nhiệm: Nhà nước, DN và NH. Trước hết nói về NH và DN, NH phải trích lập đủ các khoản dự phòng rủi ro để xử lý phần nợ xấu, DN phải dùng tài sản thế chấp để trả nợ cho NH. Như vậy họ cũng bị thiệt, vì giá tài sản thế chấp đã xuống thấp”, ông Tuyển phân tích.
Theo báo cáo của NHNN, có đến 86% các khoản vay là có tài sản bảo đảm và giá trị tài sản bằng 135% giá trị nợ xấu. Như vậy, nếu dùng quỹ dự phòng rủi ro và xử lý số tài sản bảo đảm này thì hoàn toàn có thể xử lý số nợ xấu mà Thống đốc NHNN cho rằng chiếm 10% dư nợ. Chuyên gia Lê Đăng Doanh cũng cho rằng nợ xấu có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân từ biến động thị trường nhưng cũng có nguyên nhân từ sai lầm trong đầu tư trong kinh doanh. Cần phân loại các loại nợ xấu và phân loại các DN để có phương án xử lý nợ xấu một cách thích hợp.
Về nguyên tắc chỉ có thể xử lý những khoản nợ xấu nào của những DN còn có khả năng cứu được. Một số khoản nợ xấu của những DN, cả DN nhà nước lẫn DN tư nhân thiếu những tố chất cơ bản thì không thể có biện pháp giải cứu. Những DN đó phải chấp nhận phá sản. Và phá sản trong kinh tế thị trường là một sự “tàn phá sáng tạo”. Sẽ có một nhà đầu tư mới mua lại nhà xưởng thiết bị và xây dựng một DN hoàn toàn mới. Đó là quy luật đào thải của kinh tế thị trường.
Đồng quan điểm, ông Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nêu ý kiến dù thế nào thì các hình thức xử lý phải đảm bảo các nguyên tắc: Một là, định chế mà để xử lý nợ xấu này phải có đủ nguồn lực (tối thiểu hóa được chi phí nhà nước bỏ ra và cơ chế xử lý đủ mạnh). Hai là, nó phải có nhóm chuyên gia đủ năng lực độc lập và có cái nhìn tổng thể để hỗ trợ. Ba là, có cơ chế giám sát đặc biệt, minh bạch và tính giải trình cao. Bốn là, đảm bảo tạo dựng được thị trường mua bán nợ đủ thanh khoản.
Còn ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công - Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, cho rằng, việc thành lập công ty mua bán nợ quốc gia trực thuộc NHNN đòi hỏi phải xác định rõ mục tiêu hoạt động và nguồn lực cho tổ chức này