Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II tổ chức ở căn cứ địa Chiêm Hóa - Tuyên Quang đầu năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự hào khẳng định bản lĩnh của đội ngũ cán bộ, đảng viên được tôi luyện qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: Riêng các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương (khóa II), nếu cộng lại, thì phải chịu cả trăm năm tù, hàng chục án tử hình của thực dân Pháp...
Một trong những đảng viên như thế là đồng chí Lê Văn Lương (sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Thành ủy Hà Nội) từng bị thực dân Pháp kết án tử hình, rồi giảm xuống khổ sai chung thân...
Hiên ngang trong xà lim án chém
"Mười lăm tuổi lên đường chính khí vươn cao trời biển rộng/Bảy mươi năm cùng Đảng công huân rực sáng gương soi" - Là câu đối do Giáo sư Vũ Khiêu đề tặng gia đình đồng chí Lê Văn Lương (1912-1995) vào dịp đồng chí được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.
Lê Văn Lương tên thật là Nguyễn Công Miều, thuộc dòng dõi họ Nguyễn ở làng Xuân Cầu (Nghĩa Trụ, Văn Giang, Hưng Yên) có truyền thống khoa bảng và yêu nước. Thân phụ Lê Văn Lương là cụ Nguyễn Đạo Khang, đỗ tú tài, làm Huấn đạo thời Pháp thuộc (tương tự như thanh tra giáo dục hiện nay). Lê Văn Lương từng là học sinh của một địa chỉ danh tiếng: Trường Bưởi (Trường Trung học Bảo hộ thời Pháp thuộc). Cùng với người bạn học Nguyễn Văn Cừ, Lê Văn Lương được Ngô Gia Tự giác ngộ cách mạng, tham gia Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội và trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng từ năm 1929.
Thực hiện chủ trương "vô sản hóa" của Đảng, Lê Văn Lương vào Sài Gòn hoạt động trong phong trào công nhân, lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ. Sau khi bị mật thám bắt, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lý Tự Trọng, Lê Quang Sung đều bị kết án tử hình... Những ngày chờ đợi lên máy chém, với bản lĩnh và khí phách của người Cộng sản chân chính, họ đã khiến những viên cai ngục nổi tiếng tàn bạo phải nể trọng.
Sinh thời, đồng chí Lê Văn Lương từng kể lại những kỉ niệm trong xà lim án chém: Tên gác điêng sếp người Pháp đến, nó bảo anh Hùng (đồng chí Phạm Hùng, sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ - PV): "Y án chém các anh rồi. Nhưng gặp vụ án vừa qua phải đợi
Chữ tâm của người làm công tác tổ chức
Sau gần 15 năm bị giam cầm tại Côn Đảo, Lê Văn Lương và hơn 2.000 tù chính trị được cách mạng đón về đất liền đúng vào ngày Pháp gây hấn Sài Gòn, mở đầu cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm (23/9/1945). Lê Văn Lương trở thành một trong những người lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ những ngày đầu tiên. Năm 1946, ông được điều ra Hà Nội, giúp đồng chí Trường Chinh chỉ đạo công tác báo chí, trực tiếp làm việc tại Báo Sự thật.
Trong hai cuộc kháng chiến cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này, Lê Văn Lương luôn được Bác Hồ và Trung ương Đảng tín nhiệm bầu, giao đảm trách những cương vị quan trọng như: Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng...
Trên cương vị này, ông đã dành nhiều tâm sức để đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Bàn về công tác xây dựng Đảng, ông nhấn mạnh: "Kinh nghiệm thực tế đã chứng tỏ: nếu các cán bộ tổ chức của Đảng làm các việc kết nạp đảng viên, gây dựng cơ sở... mà không nắm vững tư tưởng chỉ đạo công tác tổ chức thì họ sẽ phạm sai lầm, sẽ đưa vào Đảng những phần tử chính trị và tư tưởng lạc hậu. Do đó, sẽ có thể xảy ra tình trạng là: tuy số đảng viên đông, cơ sở Đảng rộng, nhưng tổ chức Đảng phức tạp, không những không giúp ích gì cho việc thi hành nghị quyết của Đảng và của Chính phủ, mà còn làm chậm hoặc cản trở, phá hoại việc thi hành đó nữa".
Một kỷ niệm đầy tính nhân văn, thể hiện cái tâm người làm công tác tổ chức của đồng chí Lê Văn Lương, được nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Vũ Oanh kể lại: Trong hai cuộc kháng chiến, có hàng vạn cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày. Trong số đó, cá biệt có người đã không chịu nổi sự tra tấn của địch, đầu hàng làm tay sai cho chúng. Do đó, một số tổ chức Đảng nghi ngại, thiếu tin tưởng những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt; có nơi không bố trí, đề bạt vào các vị trí quan trọng, không bố trí ở một số Ban của Đảng. Lúc bấy giờ, tôi là Phó Ban Thường trực của Ban Tổ chức Trung ương Đảng, thấy tình hình như vậy thật vô lý... Tôi trình bày với anh Lương, lúc đó là Thường trực Ban Bí thư. Anh Lương rất đồng tình với ý kiến của tôi và sau đó, anh Lương thay mặt Ban Bí thư ra chỉ thị về vấn đề này: Chỉ thị: Về việc đón tiếp những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, tù đày là những người chiến thắng trở về".
Từ đó, những nghi kị, mặc cảm được giải tỏa. Những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị địch bắt, được xác minh rõ ràng thì bố trí đề bạt như những cán bộ khác. Nhà nước ta cũng có chính sách ưu đãi những cán bộ, đảng viên, chiến sĩ bị bắt, bị tù đày trong hai cuộc kháng chiến, là rất đúng đắn, được cán bộ, đảng viên, chiến sĩ rất hoan nghênh.
Nhớ về người đồng chí của mình, nguyên Bí thư Trung ương Đảng Hoàng Tùng có những nhận xét tinh tế: Anh vẫn như xưa, cậu học sinh Nguyễn Công Miều Trường Bưởi, người tù án chém, chung thân khổ sai không thấy mình khác đi vì có vị trí trong cơ quan lãnh đạo đất nước... Anh coi khinh sự dối trá, kèn cựa, tranh lợi được danh. Đối với mình, không gì quý bằng làm tròn nhiệm vụ, sống lối sống cách mạng... Anh không bao giờ khuất phục trước uy quyền và sử dụng uy quyền của mình trong quan hệ với đồng chí. Nhận xét con người bao giờ cũng coi trọng chỗ mạnh, không vùi dập ai... Không phải là một con người hoàn hảo tận thiện, tận mỹ nhưng Lê Văn Lương luôn cố gắng vươn tới những phẩm chất cao quý ấy của người Cộng sản mẫu mực lớp đầu của Đảng ta.
Người chồng, người cha mẫu mực
"Hôm vừa rồi nhân khánh thành tuyến đường Lê Văn Lương kéo dài, tôi bảo đứa cháu nội đưa tôi đi ngắm phố xá từ Hồ Tây, Hồ Gươm... rồi vòng ra đường Lê Văn Lương. Tôi vẫn thấy anh Lương như đang hiện hữu trong gia đình chúng tôi" - bà Nguyễn Thị Bích Thuận, phu nhân đồng chí Lê Văn Lương, đã tâm sự với tôi như vậy trong một ngày Thủ đô đang diễn ra các hoạt động mừng Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Sắp bước vào tuổi 90, mái tóc bạc trắng, nhưng bà Thuận - nguyên Phó Cục trưởng Cục Cảnh vệ (nay là Bộ Tư lệnh Cảnh vệ - Bộ Công an) - vẫn rất tinh tường. Từ một nữ sinh Đồng Khánh (Hà Nội), cũng là một ngôi trường nổi tiếng, bà Thuận hăng hái tham gia cách mạng và nên duyên với ông Lê Văn Lương.
Hễ nhắc tới người chồng, bao giờ bà cũng dùng hai tiếng "Anh Lương". Tôi hỏi: "Lúc ông còn sống, ông bà xưng hô với nhau như thế nào?". Bà bảo: "Sống với nhau gần nửa thế kỷ, chúng tôi vẫn luôn xưng hô anh - em". "Tôi nhớ anh ấy lắm và luôn cảm thấy anh vẫn ở bên tôi, bên con cháu hằng ngày".
Bà Thuận đưa tôi lên tầng ba của ngôi nhà, được người cháu nội là kiến trúc sư thiết kế như một bảo tàng mini, có bàn thờ tổ tiên, bàn thờ ông Lương, những hiện vật, bức ảnh vô giá của gia đình; trong đó có ảnh cưới của ông bà do nhà nhiếp ảnh Vũ Năng An chụp tại chiến khu Việt Bắc đầu năm 1948. Trong ảnh, có chủ hôn là Bác Tôn, cùng các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt và vợ chồng Lê Văn Lương - Nguyễn Thị Bích Thuận.
Một bức ảnh khác, rất đặc biệt: Bác Hồ đang xúc cơm cho một bé gái ngồi trên chiếc xe cút kít bằng gỗ. Thấy tôi ngắm kỹ bức ảnh này, bà Thuận kể: "Bác Hồ thì yêu quý các cháu nhỏ vô cùng. Sáng hôm ấy, trước khi vào Đại hội II của Đảng ở xã Vinh Quang (Chiêm Hóa), Bác cho gọi cháu Minh Thu (con gái tôi, mới hai tuổi) lên nhà. Anh Lê Tất Đắc kiếm được một chiếc xe cút kít nhỏ, vừa tầm để cháu Thu ngồi. Bác vừa trêu đùa với cháu Thu vừa xúc xôi cho cháu ăn. Thế rồi từ đấy, cháu Thu quen Bác, không lạ nữa... Hình ảnh này cũng được anh Vũ Năng An ghi lại. Đó là bức ảnh tuyệt đẹp ghi hình ông và cháu. Sau này, anh Vũ Năng An gửi tặng chúng tôi cả ảnh và phim. Sau này có lần, Bác Hồ hỏi tôi còn giữ được bức ảnh đó không, nên phóng to ra làm kỷ niệm"...
Trở lại câu chuyện tình yêu của ông bà Lương - Thuận được khởi nguồn từ sự say mê đầy nhiệt huyết với công tác cách mạng. Bà Thuận kể: Năm ấy tôi cũng đã cứng tuổi rồi, nhưng vì mải công tác nên chưa có ý định lập gia đình. Tôi gặp anh Lương trong một lớp học chính trị, anh là giảng viên, còn tôi là học viên. Giảng viên còn có các anh Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ...
Một hôm anh Lê Đức Thọ gọi tôi đến nói chuyện. Anh khen anh Lương về nhiều mặt và muốn tác thành cho chúng tôi; nhưng tôi vẫn tỏ ý chưa muốn lập gia đình vì còn bận công tác. Song, anh Thọ đã nói một câu rất thuyết phục: "Anh chỉ muốn Lương và em, những người đồng chí tốt gặp được nhau".
Đám cưới của chúng tôi tổ chức ngày 28/3/1948. Bác Tôn làm chủ hôn. Bác Hồ gửi đến bức thư với có ghi: "Chúc Lương - Thuận đoàn kết chặt chẽ". Anh Trường Chinh, anh Lê Đức Thọ, anh Hoàng Quốc Việt cũng dự. Còn có cả các anh, chị trong cơ quan. Chị Hai Sóc chuẩn bị mấy mâm cơm làm cỗ... Anh Lương vẫn mặc bộ quần áo nâu; tôi còn giữ được cái áo dài lanh nâu để mặc. Bác Tôn phát biểu công nhận chúng tôi thành hôn. Anh Lương đứng lên hứa: "Chúng tôi xin hứa yêu nhau suốt đời".
Cuộc hôn nhân giữa hai người đồng chí gặp nhau trên chặng đường cách mạng kéo dài gần nửa thế kỷ, cho đến khi ông Lương đi gặp Cụ Hồ, tháng 4/1995. Những người con của ông bà đều trưởng thành, là những người hữu ích, phát huy tốt truyền thống của gia đình.
"Tôi vẫn có anh Lương ở bên, đi cùng với các con các cháu. Tôi vẫn nghe lời anh nhắc nhở mỗi khi tôi gặp đoạn đường khó khăn, vất vả của nhiệm vụ làm mẹ, làm bà. Chúng tôi vẫn mãi mãi bên nhau"... Đôi mắt bà Thuận chợt nhìn về nơi xa xăm lắm và bà nói như chiêm nghiệm lúc tôi chào bà ra về.
Trên đường phố, Hà Nội vẫn đang tưng bừng nhịp sống của ngày Đại lễ