Từ ngày mới lớn, mỗi khi nhìn lên dãy ảnh lãnh tụ treo trên tường, tôi rất ấn tượng với ảnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp với bộ quân phục trắng toát, trên ve áo là cành tùng vàng óng, chiếc mũ kê pi nghiêm trang và gương mặt toát lên sự anh minh, thông thái và oai phong với cặp mắt sáng ngời vừa nghiêm nghị vừa bao dung.
Tôi ước ao, làm sao có dịp được nhìn thấy vị tướng tài ba ấy trong đời thường xem ông thế nào, cao to làm sao mà trong lễ duyệt binh phát qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam (lúc đó chưa có truyền hình), sau lời chúc của ông với bộ đội, ông được bộ đội hô muôn người như một: Chúc Đại tướng khỏe! và sau lệnh của ông, hàng ngàn quân nhân bước đi rầm rập…
Không ngờ, ước mơ tưởng như viễn tưởng ấy có ngày lại thành hiện thực, khi sau 3 năm trở thành lính Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Đó là vào cuối tháng 8/1971, Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) mở lớp Thơ văn tại Trạm 22 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội (nay là nơi đón tiếp của Lăng Bác) để chuẩn bị cho lễ kỷ niệm 15 năm Ngày truyền thống của lực lượng CANDVT.
Sau 2 tháng vừa học vừa viết, lớp được đi thực tế, chúng tôi gồm 7 anh em là lính vùng núi được về CANDVT TP Hải Phòng, sau gần 1 tháng sống cùng những người lính biên phòng tại các đồn Cảng Hải Phòng, Đồn 30 CANDVT Cát Hải (lúc đó chưa sáp nhập với đảo Cát Bà vì lí do địa lý), chúng tôi chuyển về thực tế tại đồn 34 Đồ Sơn. Về đồn buổi sáng, buổi tối chúng tôi đã trở thành lính của đồn, cùng tham gia tuần tra và giúp dân chống bão, lần đầu tiên tôi được chứng kiến những cơn sóng cao hàng chục mét từ biển xô vào bờ, nhìn những hòn đá to như con trâu, con ngựa bị sóng vứt lên đường ven bờ trong khu nghỉ mát Đồ Sơn tôi mới hiểu tại sao tiểu thuyết của Nhà văn Chu Văn có cái tên "Bão biển".
Sau hai ngày chống bão, sáng hôm ấy, chúng tôi được đi tham quan khu nghỉ mát Đồ Sơn. Chúng tôi đang mải mê ngắm những con tàu nước ngoài lừng lững nhập Cảng Hải Phòng trên cửa Nam Triệu, những ụ pháo bờ biển còn nguyên bờ đất cỏ mọc xanh um tùm thì phát hiện từ khúc cua ngang sườn đồi có mấy người đang đi xuống với vẻ thư thái, khi chúng tôi đến gần thì anh Tường là cán bộ của Ban Chính trị CANDVT Hải Phòng bỗng hô lớn: "Tất cả chú ý! Nghiêm! Báo cáo đồng chí Đại tướng, tôi, Chuẩn úy Nguyễn Mạnh Tường, cán bộ CANDVT Hải Phòng xin báo cáo: Chúng tôi thuộc lớp thơ văn của Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh CANDVT đang thực tập tại Đồ Sơn, thưa Đại tướng, các đồng chí này là người dân tộc thiểu số và ở Đồn Biên phòng vùng núi phía Bắc, chưa biết biển đảo nên đi thực tế để góp phần cho lớp có kết quả tốt".
Đại tướng vui vẻ tiến đến bắt tay lần lượt từng người, theo sự giới thiệu của anh Tường: "Thưa Đại tướng, đây là 2 đồng chí, binh nhất Nguyễn Hữu Ái (nay là giảng viên đại học tại TP HCM), hạ sỹ Lê Văn Xiêm (sau là phóng viên Báo Biên phòng) đều ở Đồn Biên phòng Cha Lo, Quảng Bình". Đại tướng nói vui: "Đồng hương hả, ở với đồng bào phải hiểu biết về họ thì mới có bài viết hay, phải viết đúng thì đồng bào mới tin và làm theo". Anh Tường giới thiệu tiếp: "Còn đây là hạ sỹ Lục Hữu Bồng, dân tộc Tày, ở CANDVT Lạng Sơn và binh nhất Lương Xuân Tý, dân tộc Cao Lan, ở CANDVT Bắc Thái (Thái Nguyên và Bắc Kạn)". Đại tướng gật đầu, tiến đến bắt tay anh Bồng và tôi, ông hỏi tôi: "Tiếng đồng chí nói ăn cơm là gì?". Nắm chặt bàn tay ấm nóng của vị Đại tướng tôi hằng mong ước được gặp mà tôi lúng túng không nói nên lời. Ông vui vẻ cười, đặt tay lên vai tôi trả lời hộ: "Nhằn hẳng à?" (tiếng dân tộc Mông là ăn cơm). Thấy tôi đỏ mặt, Đại tướng nói tiếp: "Kin khẩu à (tiếng dân tộc Tày)? Hay là hệch phàn? (tiếng dân tộc Sán Chỉ), hệch phiều?". Không hiểu sao lúc đó tôi không nhớ nổi từ "ăn cơm" của dân tộc mình là gì để thưa với Đại tướng. Thấy tôi ngây người đứng ngắm ông, Đại tướng cười hồn hậu: "Thế thì nói là "ăn cơm" nhé?".
Tất cả mọi người cùng ồ lên cười vui, khiến tôi càng lúng túng. Đại tướng nói tiếp: "Các đồng chí là người dân tộc thiểu số cần giữ gìn và phát huy vốn văn hóa của dân tộc mình, đẩy mạnh tuyên truyền và giữ vững đoàn kết với các dân tộc anh em, có như vậy biên giới mới được giữ vững… À tôi nhớ ra rồi, Đại tướng quay sang phía tôi, tiếng của đồng chí là "kin ngài", đúng không?, tất cả ăn sáng, ăn trưa, ăn tối đều gọi là kin ngài". Tôi chỉ kịp đứng nghiêm đáp: "Thưa Đại tướng đúng ạ!". Đại tướng cười vui: "Thế nhé, chúc các đồng chí học tập tốt, viết được nhiều bài hay phục vụ nhiệm vụ của đơn vị".
Chúng tôi nhìn theo Đại tướng đi cùng đoàn xuống ven đồi, lòng tôi rộn lên niềm vui khó tả vì lần gặp này tôi còn được biết, vị tướng tài ba mà tôi ước mong được gặp ấy sau khi từ Chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội, với bao trọng trách trong công việc, vẫn còn nhớ và nói thông thạo tiếng của hàng loạt các dân tộc thiểu số mà ông đã từng sống cùng cách thời gian đó hơn hai chục năm trời, trong đó có dân tộc tôi, một dân tộc rất ít người có mật độ tập trung ở Tuyên Quang và Thái Nguyên