“Ốc đảo” giữa ngàn mây
Cách trung tâm xã Tà Long chừng 30km nhưng chúng tôi phải mất một ngày trời mới đến được Ba Ngay, với đầy đủ các kiểu di chuyển: đi xe máy, cuốc bộ và… bò. Con đường - gọi theo một cách xa xỉ mà chúng tôi đi, một bên là núi cao, một bên là vực sâu như “nói không” với những người yếu tim và thách thức mọi tay lái! Khoảng 15km đầu, chiếc xe đã trôi theo hình chữ Z giữa những lớp bùn non nhầy nhụa. Tôi định dừng lại để… thở sau một cú “vồ ếch” giữa bãi bùn thì thầy Dũng nhắc khéo: “Phim hay ở phần cuối, đoạn đường này chưa là gì cả đâu. Tiếp tục thôi nếu bạn không muốn ngủ lại giữa rừng với vắt và ốc sên!”.
Bản Chai và Tà Mên đã dần ở lại phía sau, lên đến đây thì dường như chỉ còn chúng tôi giữa chốn rừng rú, tuyệt nhiên không còn thấy một nóc nhà sàn nào. Chúng tôi đi sát nhau để lỡ có chuyện gì còn kịp tương trợ. Cũng có một phen hoảng hồn khi người bạn đồng hành của tôi bị trượt chân, may mắn thoát khỏi miệng vực sâu bởi kịp bám vào vách đá.
Lên đến đỉnh đồi Cheng, thầy Dũng chỉ tay về phía xa và nói đó là Ba Ngay, một bản làng heo hút, chỉ rải rác mấy nóc nhà sàn trước là suối, sau là núi, không khác mấy với hình ảnh nơi định cư những bộ tộc sống sâu trong rừng nguyên sinh Nam Mỹ mà tôi đã xem qua ở một bộ phim khoa học nào đó.
Rồi từ dưới đỉnh dốc, một người đàn ông gùi một bó củi lớn hét to: “Ô, thầy Dũng lại vào thăm dân bản đấy à!”. Đó là Hồ Văn Thông, Phó Bí thư Chi bộ thôn Ba Ngay, một trong những đảng viên ít ỏi của bản. Dọc đoạn đường từ khi gặp, anh Thông đã cung cấp cho chúng tôi một số thông tin sơ lược về Ba Ngay. Dù nhỏ bé với 30 hộ dân (20 hộ nghèo) nhưng bản Ba Ngay có tới 219 khẩu, tình hình nói chung là… đẻ nhiều, nhà ít thì 5 con, cá biệt như nhà Pả Vũ, Pả Rieng thì 11 con.
Người dân Ba Ngay chủ yếu sống nhờ vào nương rẫy, trồng cây lúa hoặc cây ngô và mỗi năm chỉ làm một vụ, thường sẽ phải “treo niêu” nếu không có gạo cứu đói của Nhà nước. “Dân bản chỉ sản xuất từ tháng 5 đến tháng 10, còn lại là… nghỉ ngơi”, anh Thông nói thật như đếm.
Cái chữ trên non
Chúng tôi ghé thăm điểm trường tại thôn Ba Ngay khi trời đã về chiều. Việc đầu tiên tôi muốn làm khi bước vào ngôi trường trống hoác được ghép lại từ mấy thanh tre, bờ-rô-xi-măng này là cúi chào thán phục trước hai cô giáo Trần Thị Nhỡn (SN 1986, quê Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) và Trương Thị Thu Hiền (SN 1988, quê Hải Lăng, Quảng Trị). Đến chúng tôi là đàn ông trai tráng mà cũng lắc đầu lè lưỡi mới mò mẫm tới tận đây thì không biết bằng cách gì hai cô gái trẻ tuổi, trắng trẻo nom như sinh viên đại học có thể vào Ba Ngay để cắm bản.
Thầy giáo Hồ Văn Đằng (29 tuổi, quê xã Linh Thượng, huyện Gio Linh, Quảng Trị) tếu táo rằng: “Trước đây chỉ có mình với thầy Đàm (Hồ Văn Đàm, 41 tuổi, quê Hướng Hiệp, huyện Đakrông, Quảng Trị) lúi húi với nhau. Hơn một tháng nay có hai cô giáo mới nhập hội, lán giáo viên cũng rộn rã hơn tí chút vì có nếp có tẻ…”.
Và, mỗi người trong số họ đều có một hoàn cảnh riêng. Cô Nhỡn vừa lấy chồng quê Quảng Trị, tuần trăng mật qua chưa lâu đã lặn lội lên Ba Ngay công tác mà chưa một lần dám đưa phu quân của mình lên “cơ quan” để chứng kiến cảnh vợ sống, làm việc như thế nào. Thầy Đằng và thầy Đàm cũng đã có gia đình nhưng vì điều kiện phải gửi vợ con ở nhà nội ngoại, cả tháng trời có khi không về thăm được một hôm.
Nói đến đây, cô giáo mới ra trường Thu Hiền đã thút thít, lo sợ một lí do nghe đến tội nghiệp: “Mấy anh về viết bài, lỡ bố mẹ biết em sống cực khổ thế này chắc không cho em đi dạy nữa đâu…”. Và họ đã không kể cho chúng tôi nghe rằng lúc mới lên, lạ nước, ai cũng bị quật ngã bởi những cơn sốt li bì; ai cũng bị vắt cắn cho tứa máu; ai cũng có thật nhiều đêm ngửa mặt lên vách nghe tiếng con suối Xê Đay từ đằng xa vọng lại mà nước mắt cứ tràn ra bởi nỗi nhớ quê và gia đình…
Nhưng sẽ ra sao với 48 học sinh đen đúa, thơ ngây ở bản Ba Ngay nếu như không có họ, trong khi ở chốn này cái gì cũng thiếu, cái chữ càng thiếu vô cùng. “Nói thật, chúng tôi đi dạy ở đây với mục tiêu không quá xa vời, chỉ mong sao các em biết đọc, biết viết và biết làm bốn phép tính cộng trừ nhân chia là cũng đã mãn nguyện phần nào rồi…”, thầy Đàm, người thầy có đôi chân tật nguyền nhưng đã cắm bản hơn 4 năm trời ở Ba Ngay thật lòng chia sẻ.
Nghĩa tình dân bản
Chúng tôi quyết định ở lại với Ba Ngay thêm một đêm vì trời bất chợt đổ mưa, phần vì đôi chân mỏi nhừ tưởng như không bước nổi. Câu chuyện của chúng tôi dài hơn trong bữa cơm tối với rau rừng, chuối trộn và một ít cá khô còn sót lại từ tuần trước. Mấy thầy cô bảo sống ở đây họ chủ yếu nhờ tình thương của dân bản, hết gạo, hết thức ăn đều phải đi xin của dân, đôi khi có cái gì ngon không cần xin người trong bản cũng tự mang đến biếu…
20h, khi những con ếch bắt đầu tập dàn đồng ca uệnh oạng thì từ phía sau lán chúng tôi nghe những bước chân người. Dưới ánh đèn tù mù chỉ đủ sáng trong một không gian nhỏ hẹp, chúng tôi nhận ra đó là một vài người dân trong bản, họ lóp ngóp đội mưa ghé chơi. Một tay xách cổ gà, một nách kẹp chai rượu nếp. Già làng Pả Hương vồ vập: “Biết có khách quý đến, dân bản phải tiếp đãi thôi. Đêm nay phải uống với dân bản đến say nhé!”.
Rượu qua vài vòng, lại xuất hiện Pả Khen từ đâu đến tay cầm một con rắn sọc dưa to và reo lên: “Có đặc sản đãi cán bộ báo rồi nhé!”. Món gà rừng bóp và rắn chiên xù đưa những chén rượu đều đều trên môi mỗi người, họ đã kể cho chúng tôi nghe nhiều câu chuyện lạ kì về tục lệ tưởng như thật xa xưa của dân bản. Phó Bí thư chi bộ Thông còn nổi hứng yêu cầu mọi người phải oát (hát) tặng nhau vài bài cho xôm tụ. Có vẻ như một đêm giữa rừng già không dài lắm, khi ai cũng dành cho nhau những nụ cười, tiếng hát cùng hòa vào tiếng mưa đêm rả rích.
Biết chúng tôi sẽ trở về nên nhiều người dân Ba Ngay đã tụ tập ở lán giáo viên từ sáng sớm để chào từ biệt, trong đó có hai trai bản khỏe mạnh sẽ có nhiệm vụ hộ tống chúng tôi hết đoạn đường khó.
Quay về Tà Long sau một đêm mất tích không sóng điện thoại, không Internet ở bản Ba Ngay nhưng sao tôi vẫn cứ nhớ thương cái ôm thật chặt của anh Thông, Pả Hương như thì thầm lời hẹn ngày gặp lại và cả câu nói khá văn chương của thầy Đằng: “Mây trời Ba Ngay đón anh đến và mây trời Ba Ngay lại tiễn các anh đi, chỉ còn chúng tôi ở lại nên đừng quên chúng tôi nhé!”. Lúc ấy tôi không nói nhưng tự trái tim đã có câu trả lời: “Làm sao có thể quên một vùng đất như thế, nơi có những con người như thế!”