Một giấc mơ - Một cuộc cách mạng - Một cơ hội tự chủ

Nguyễn Xuân Liêu - và các đồng sự của mình, nhiều năm nay, đau đáu tìm cách hoá giải cái “Giấc mơ thép” bằng công nghệ “Hoàn nguyên trực tiếp”.

I- "Giấc mơ thép"

Lâu lắm rồi, "Giấc mơ thép" đã là giấc mơ thường trực của con người văn minh. Nó sinh ra từ khi loài người đi qua thời đại đồ đồng, rồi lại thấy sắt vẫn còn mềm quá! Đặc biệt, từ khi họ bước vào thời đại cơ khí - thời hiện đại.

Thép! Thép! Thép! Nhiều triệu ngôi nhà đòi thép. Nhiều tỷ mặt hàng dân sinh và quốc phòng đòi thép. Nhiều tỷ chi tiết máy đòi thép.

Hôm qua, hôm nay, ngày mai, ngày kia và không biết bao năm nữa, loài người cần thép, đòi thép.

Thế gian đã như vậy, đất nước mình cũng vậy. Thời "Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa", mình lại càng như vậy.

Chả thế mà, từ cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, bên cạnh hai giấc mơ lớn của miền Bắc XHCN: "Giấc mơ than" (5 triệu tấn/năm), "Giấc mơ thóc" (5 triệu tấn/năm), chúng ta đã mơ "Giấc mơ thép".

Chúng ta đã xắn tay áo lên để biến những giấc mơ của mình thành hiện thực. Và, "Khu Gang thép Thái Nguyên", sản phẩm của "Tình hữu nghị Việt - Trung", đã ra đời, nhằm hiện thực hoá cái "Giấc mơ thép" kia, để có thể có được mấy trăm ngàn tấn thép/năm.

Bây giờ, nhớ lại những giấc mơ của "Cái thuở ban đầu dân quốc ấy", ta thấy chúng đã thành hiện thực từ lâu:

- Than, vừa tiêu dùng vừa xuất khẩu, ta đã làm ra chừng 20 triệu tấn/năm.

- Thóc, cũng chừng 20 triệu tấn/năm (kể cả lương thực quy ra thóc), trong đó, có năm ta đã xuất khẩu tới 4 triệu tấn gạo, trở thành nước xuất khẩu gạo nhất, nhì thế giới.

- Riêng thép, tuy đã vượt 5 triệu tấn/năm, nhưng "Giấc mơ thép"  vẫn ám ảnh ta một cách dai dẳng.

Thứ nhất, sản lượng thép ta còn quá thấp. Năm 2007, cả nước tiêu thụ 10 triệu 400 ngàn tấn thép, ta chỉ làm ra 5 triệu 112 ngàn tấn, đáp ứng 50% nhu cầu. Cả nước cần 4 triệu tấn phôi thép, ta chỉ làm ra 1 triệu 800 ngàn tấn, đáp ứng 40% nhu cầu.

Thứ hai, ta sản xuất thép theo công nghệ cũ, lạc hậu nên hoàn toàn không thể có giá cạnh tranh cùng thiên hạ.

Bây giờ, ở Trung Hoa, những lò cao luyện thép dùng than cốc có dung tích dưới 500 mét khối đã bị cấm dùng, vì nhất định sẽ lỗ.

Thế mà ở ta, cho đến giờ, trong mọi dự án thép của ta, vẫn chỉ định sử dụng lò cao dung tích 230-320 mét khối! Tức là rất không bảo đảm các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật thời nay. Nếu cứ làm, ắt lỗ.

Lỗ, còn vì toàn bộ than cốc dùng cho các lò cao đều phải nhập khẩu với giá cắt cổ, đồng bóng, “chơi khăm”, bắt chẹt, mà ta thì không đủ than mỡ để luyện cốc! Vả lại, khi lò cao ta cho ta gang thì gang vừa đắt vừa ít. Để có được 1 triệu tấn thép, ta cần 1,15 đến 1,2 triệu tấn gang. Vậy mà ta chỉ có thể làm được 300 ngàn tấn gang/năm.

Thế là, để “khắc phục” nỗi thiếu thép do thiếu gang, ta phải nhập khẩu phôi thép để cán thép, phải nhập cả “thép phế liệu” về để tái chế. Những thứ đi nhập ấy, giá là do “người”, đâu phải do ta? Chưa nói, nếu nhập “thép phế liệu” tốt thì sẽ lại đắt và lỗ. Nếu nhập “thép phế liệu” xấu, thì không những vẫn lỗ do chế biến tốn kém mà còn biến ta thành "bãi rác" của "người". Vụ mấy con tàu nhập “thép phế liệu” rẻ về Hải Phòng, gây ra cuộc tranh luận mấy tháng giữa "Ông Môi trường”, "Ông Thép” và "Ông Hải quan” mấy năm trước, là một trong những ví dụ sống động, đau lòng!

Thứ ba, ngành thép ta có một “điểm yếu chết người” nữa là, từ năm 1959, ta bắt đầu làm “Gang thép Thái Nguyên”, thế mà mãi đến giờ, ngoài sự “ít” và “đắt” như đã nói, ta chỉ có thể làm Thép xây dựng, mà chưa bao giờ làm được  Thép hợp kim với quy mô hàng hoá! Thế mà, chỉ khi có Thép hợp kim hàng hoá, chúng ta mới có thể chủ động trong việc chế máy móc, xây cao ốc, làm khí cụ, chiến cụ, vũ khí, y cụ và những đồ dân sinh cao cấp được. Trong khi đó, cứ 5 năm, nền kinh tế ta lại cần thêm chừng 5 triệu tấn thép các loại.

Theo dự báo, nhu cầu thép của ta như sau:

- Năm 2015: 15 triệu tấn;

- Năm 2020: 20 triệu tấn

Nếu không làm ngay, ta sẽ ngày càng phụ thuộc vào thép của "người", đặc biệt là Thép hợp kim.

Rõ ràng, chẳng cần thông minh cho lắm cũng có thể thấy, "Giấc mơ thép" vẫn đang còn treo lơ lửng trên đầu nền kinh tế ta, thách thức sự nghiệp “Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa” của chúng ta.

II- Một cuộc cách mạng

Những năm gần đây, Mỹ, Ca-na-đa, Trung Hoa, Ấn Độ, Hàn Quốc... đã tìm ra và ứng dụng một công nghệ luyện thép, khác hẳn về nguyên lý với  công nghệ lò cao truyền thống. Đó là công nghệ luyện thép "phi cốc" (không dùng than cốc). Hàn Quốc, 10 năm nay, đã dùng đến hơn 1.000 người, tập trung nghiên cứu công nghệ này.

Công nghệ luyện thép “phi cốc” thế giới đi theo hai hướng:

- "Hoàn nguyên nấu chảy", tức là dùng lò hoàn nguyên tạo ra gang lỏng để từ đó nấu ra thép, thích hợp với những nước giàu khí đốt thiên nhiên như Nga, Ca-na-đa, Vê-nê-duy-ê-la...

- "Hoàn nguyên trực tiếp"- tức là dùng lò hoàn nguyên với nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của quặng sắt, để tạo ra sắt xốp, rất thích hợp với những nước có nhiều mỏ quặng sắt vừa và nhỏ, không giàu khí đốt thiên nhiên, nhưng lại nhiều than An-tra-xít, như nước ta.

Hiện, sản lượng thép "phi cốc" thế giới còn thấp, mới khoảng 70 triệu tấn, chiếm khoảng 5% sản lượng thép toàn cầu. Công nghệ "phi cốc"- “Hoàn nguyên trực tiếp” - lại rất phù hợp với những mỏ nhỏ, vừa và phân tán ở nước ta. Nó cũng càng phù hợp với túi tiền của các nhà đầu tư ta. Nó giúp ta sớm có sắt xốp thay gang để luyện thép, đặc biệt nó giúp ta sớm có Thép hợp kim hàng hoá với giá cạnh tranh.

Công nghệ “Hoàn nguyên trực tiếp”, được diễn giải một cách phổ thông như sau:

Quặng sắt tinh (Fe2O3, Fe3O4) được nghiền, vê viên, trộn với than An-tra-xít (thực chất là trộn với các-bon), tạo ra phối liệu, rót liên tục vào lò hoàn nguyên. Lại dùng than An-tra-xít, qua lò hoá khí, tạo ra khí CO, thổi liên tục vào lò hoàn nguyên, để tác động vào dòng phối liệu kia. Ô-xy trong quặng tinh bị lấy đi. Ở đáy lò, sắt đã “hoàn nguyên” được nhả ra. Đó là sắt xốp. Nhưng tại sao lại là sắt xốp? Ấy là vì, khi qua lò hoàn nguyên, dù ô-xy trong quặng sắt đã bị “cướp” đi rồi, nhưng những “thể tích” chứa ô-xy cũ thì còn đó. Những “thể tích” ấy tạo ra vô số những lỗ rỗng trong sản phẩm. Và, những viên sắt ra lò, kích thước như những chiếc bánh dày nhỏ, nhưng lại xốp như bích quy, gọi là sắt xốp.

Sắt xốp, hàng tỉ tỉ tỉ viên, hàng triệu triệu tấn “bánh dày - bích quy” công nghiệp ấy, thay cho gang, qua lò cảm ứng, lò hồ quang tinh luyện, tạo ra phôi thép thấp các-bon (tỉ lệ các-bon dưới 1%, tỷ lệ lưu huỳnh và phốt-pho dưới 0,05%).

Chỉ cần thêm vào đó những phụ gia hợp kim theo các tỉ lệ quy định, chúng ta sẽ có các loại phôi thép hợp kimphôi thép đúc hợp kim cao.

Thế là không còn phải xây các khu gang thép lớn với lò cao trên 500 mét khối bằng nhiều tỉ đô-la nữa!

Thế là không còn lo phải luyện hay đi mua than cốc, với giá đồng bóng nữa!

Thế là chỉ cần quặng sắt Việt Nam, than Quảng Ninh và điện, ta đã có thể tự chủ được về Thép xây dựng, Thép hợp kim hàng hoá vừa tốt vừa có giá cạnh tranh trong một thời gian ngắn.

Đó thực sự là một cuộc cách mạng trong ngành luyện kim, đặc biệt là ở nước ta.

III- Liêu và các đồng sự

Liêu - Nguyễn Xuân Liêu - và các đồng sự của mình, nhiều năm nay, đau đáu tìm cách hoá giải cái “Giấc mơ thép” kia bằng công nghệ “Hoàn nguyên trực tiếp”.

Suốt 10 năm, họ mày mò tìm kiếm tài liệu và tham quan ở nhiều nước, tiếp xúc với một số ít người đã từng mơ về sắt xốp ở Việt Nam.

Tài liệu thì vô cùng hiếm hoi.

Người đã từng được Nhà nước giao làm thử thì nói: “Chúng tôi đã thử, đã đái ra máu và đã thất bại! Không làm được đâu!”...

Khó khăn chồng chất, nhưng Liêu và các bạn mình không nản. Họ yêu nước, yêu nghề và đủ bản lĩnh để bắt tay vào việc.

Họ liên kết lại, góp vốn, thành lập ra “Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Việt Nam”, viết tắt tiếng Anh là MIREX.

Họ tìm ra quy trình luyện thép "phi cốc" của riêng mình. Công trình của họ đã được Cục Sở hữu Trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế số 7386 và 7387. Bằng số 7386, tên đầy đủ là: "Phương pháp sản xuất sắt xốp". Bằng số 7387, tên đầy đủ là: "Phương pháp sản xuất thép". Tất cả đều dùng công nghệ "phi cốc".

MIREX chọn Cao Bằng để triển khai dự án đầu. Tại sao lại là Cao Bằng? Vì ở Cao Bằng, các mỏ sắt tuy phân tán, không lớn, nhưng chất lượng rất tốt, hàm lượng sắt nhiều mỏ từ 60% trở lên, đa số lại là mỏ lộ thiên, dễ khai thác. Đó là nguồn quặng tinh quý giá. Lại cũng vì Cao Bằng ít công nghiệp, nên Tỉnh uỷ và UBND tỉnh rất ủng hộ. Thực ra, lúc đầu tỉnh cũng chưa hiểu ngay, lãnh đạo tỉnh bảo: “Thôi! Chúng tôi đã có tới quá nhiều dự án thép rồi!”. Nhưng sau khi xem dự án của MIREX, thấy quá thuyết phục, tỉnh lập tức cho phép. Từ đó, Cao Bằng sẽ có công nghiệp, có công nghệ cao, lại có công ăn việc làm cho con em mình.

Trong khi ấy ở Cao Bằng và một số tỉnh miền núi phía Bắc, các nhà khai mỏ của các “Dự án thép” khác, chủ yếu là khai thác quặng sắt để đổi lấy than cốc từ bên kia bên giới về luyện gang theo công nghệ cũ: Nếu theo phương thức trung cổ, hàng đổi hàng, thì 3 – 4 tấn quặng tinh đổi được 1 tấn than cốc; còn trong thực tế, nếu khai mỏ kiểu “thổ phỉ”, bán trộm qua biên giới, có khi phải mất từ 10 – 20 tấn quặng tinh mới được 1 tấn cốc! Nhà nước thì không thu hết được thuế, “tiền tươi thóc thật” lại không ai biết là chui vào túi ai!

Trong khi có “Dự án thép” được tỉnh cấp giấy phép cả 10 năm mà chưa hề lắp một tấn thiết bị nào, thì MIREX tiến hành rất cụ thể:

- Khởi công ngày 16/8/2007.

- Mẻ sắt xốp đầu ra lò vào ngày 17/5/2010.

- Vốn đăng ký là 1.497 tỷ VND, tương đương với 85 triệu đô la Mỹ lúc ấy, bao gồm cả vốn cho việc khai thác 384.000 tấn quặng sắt tinh/năm.

- Mỗi năm, từ số quặng tinh 384.000 tấn ấy, qua lò "Hoàn nguyên trực tiếp" sẽ được 200 ngàn tấn sắt xốp. 200 ngàn tấn sắt xốp ấy, qua lò cảm ứng, lò tinh luyện, sẽ có 160 ngàn tấn phôi thép thấp các - bon. Nếu trong khâu tinh luyện, thêm phụ gia hợp kim, ta sẽ có hơn 160 ngàn tấn phôi thép đúc hợp kim, thứ mà xưa nay ta chưa từng sản xuất hàng hoá được. Nếu không đúc phôi thép hợp kim như vừa nói mà đúc ngay phôi của các sản phẩm đúc theo đơn đặt hàng, ta sẽ có hơn 160 ngàn tấn phôi thép đúc hợp kim cao, chỉ việc gia công, đánh bóng, mạ crôm hoặc ni-ken... nếu cần, rồi lắp thành máy móc, thành khí cụ.

Liêu và các đồng sự tính sẵn, riêng ở Cao Bằng, trữ lượng quặng sắt là 60 triệu tấn, tức là 43 triệu tấn quặng tinh, đủ để sản xuất 33 triệu tấn sắt xốp, từ đó sản xuất được 26 triệu tấn phôi thép thấp các - bon, hoặc phôi thép đúc hợp kim, hoặc phôi thép đúc hợp kim cao.

Trên toàn lãnh thổ Việt Nam, trữ lượng quặng sắt khoảng 1,2 tỷ tấn.

Chao ôi! Toàn là những con số biết nói, biết hóa giải cái "Giấc mơ thép" triền miên, đằng đẵng kia.

Tổ hợp lò "Hoàn nguyên trực tiếp" của MIREX ở Cao Bằng là một mô- đun (hiện là lớn nhất và duy nhất ở Việt Nam, với 54 lò hoàn nguyên), thì với các mỏ sắt vừa và nhỏ đã rất đắc dụng, còn với các mỏ lớn, chỉ việc lắp thêm các mô- đun khác là xong. MIREX Cao Bằng đúng là mô hình hiện nay là tối ưu cho các mỏ sắt Việt Nam. Thế là sẽ không phải bỏ cả nhiều tỷ đô-la Mỹ để xây các khu gang thép lớn, với lò cao trên 500 mét khối và xả CO2 lên trời; lại không phải nhập cốc với giá của "người", không phải nhập phôi thép với giá trên trời, không phải nhập "rác thép" về nấu lại... Trời ta sẽ xanh trong hơn, nước của ta sẽ trong lành hơn biết bao! Ngân sách của ta sẽ đỡ tốn biết bao!

Về tính kinh tế của công nghệ "Hoàn nguyên trực tiếp", có thể lấy mấy ví dụ dễ hiểu sau đây:

- 80% lượng quặng tinh được biến thành sắt xốp.

- 70% lượng sắt xốp được biến thành 3 loại phôi thép nói trên.

- Nếu bán quặng tinh qua biên giới, giá là 1 tấn là 180 đô-la Mỹ.

- Chỉ cần 1,25 tấn quặng tinh, ta có 1 tấn sắt xốp, giá bán là 450 đô-la Mỹ.

- Chỉ cần 1 tấn sắt xốp được làm thành phôi thép hợp kim, ta sẽ bán được từ 1.200 - 1.400 đô-la Mỹ.

- Chỉ cần dùng phôi thép hợp kim để chế bi nghiền, ta đã có thể bán với giá từ 1.500 đến 1.800 đô-la Mỹ/tấn. Mà hàng năm, riêng các nhà máy xi- măng của ta, đã phải nhập hàng triệu tấn bi nghiền để nghiền clanh-ke rồi!

Nhà máy của Liêu có công suất thiết kế 100 ngàn tấn sắt xốp/năm. Nhật, Hàn, Xinh, Ấn đã sửa soạn hợp đồng mua sắt xốp MIREX. Gang thép Thái Nguyên và nhiều cơ sở luyện thép trong nước đã "ăn" sắt xốp MIREX. Tất cả hãy yên tâm, sắt xốp MIREX đạt tiêu chuẩn quốc tế. Thép thường làm từ sắt xốp của MIREX mà đã có độ chịu lực cao hơn so với thép Thái Nguyên (4.400 tấn/cm2 so với 2.200 tấn/cm2). Liêu cũng đã nhập lò cảm ứng, lò tinh luyện để làm thép hợp kim. Măng-gan có ở Cao Bằng; crôm, ni-ken có ở Thanh Hóa v.v.., Liêu không lo. Mà cái anh thép đến lạ, đang là thép thường, chỉ cần thêm vào một chút nguyên tố hợp kim thì thành ngay ra thép hợp kim và đã cứng, dẻo hoặc chịu mài mòn hơn, chịu ăn mòn hơn nhiều. Nghĩa là độ bền hoá - lý đã tăng vọt!

Thực tình, Liêu không muốn bán sắt xốp MIREX. Tháng 6 năm 2012, Liêu đã sản xuất thành công một số mẫu thép hợp kim từ sắt xốp của mình. Những mẫu hợp kim đúc vuông vức như những chiếc bánh chưng gói khéo. "Giống như giữ lại dầu thô để làm hóa dầu vậy. Không thì tiếc lắm!"- Liêu bảo thế. Liêu muốn Cao Bằng, nơi đã lắng nghe và chấp nhận dự án của Liêu, có thép hợp kim hàng hoá đầu tiên. Rồi Liêu muốn Việt Nam có nhiều thép hợp kim hàng hoá để khỏi phụ thuộc vào nước ngoài, để tự chủ trong "Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá", để không phụ lòng các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã cho phép và ủng hộ MIREX.

Bên cạnh việc tổ chức sản xuất, Liêu và đồng sự hết sức chăm lo mảng tổ chức nhân sự và xây dựng "Tiêu chuẩn văn minh" trong công ty. Tiêu chuẩn ấy rất bình thường: "Tôn trọng nhau, trung thực, không nói xấu sau lưng nhau, không văng tục, không đi đêm". Bình  thường thế, nhưng tiếc thay, hình như nó đang là bất thường so với nhiều nơi!

Vừa rồi, nghe phản ánh, có cán bộ tổ chức của công ty "đi đêm", nhận mươi triệu của người vào công ty, Liêu mời ngay công an vào cuộc. "Mở đầu, tồn tại và kết thúc, MIREX không thể có những chuyện như thế"- Liêu bực lắm!

Rồi Liêu thành lập chi bộ đảng công ty, tổ chức đón huy hiệu "30 năm tuổi Đảng" cho đồng sự Lưu Văn Ảnh, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Thiết bị điện Việt Nam; tổ chức kết nạp đảng cho đồng sự Nguyễn Ngọc Linh, Phó giám đốc phụ trách sản xuất của MIREX, đã 63 tuổi. Thường vụ Tỉnh uỷ Cao Bằng, Bí thư Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh Cao Bằng, Trưởng ban tổ chức Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh, đều đến dự. Đồng chí Bí thư Đảng uỷ khối doanh nghiệp tỉnh phát biểu thật chân tình: "Nếu vào đảng để hưởng thụ, thì anh Linh vào là muộn. Nhưng nếu vào đảng để cống hiến thì không hề muộn".

Nguyễn Ngọc Linh là người đã có tới 4 sáng chế kỹ thuật được cấp bằng chứng nhận. Chính anh đã thiết kế, hoàn chỉnh và căn chỉnh nhiều thiết bị sản xuất chính của công ty, trong đó, quan trọng nhất là tổ hợp lò đứng hoàn nguyên của MIREX.

Mọi người gọi Linh là "Linh Lang", tức là "Chàng Linh". Ghép với Liêu - Nguyễn Xuân Liêu - thành ra "Lang Liêu". Lang Liêu xưa làm ra bánh chưng, bánh dày dâng vua Hùng. "Lang Liêu" MIREX cũng làm ra bánh chưng hợp kim và bánh dày - bích quy công nghiệp cho đất nước. MIREX là tên chính thức của Công ty. "Lang Liêu" chắc chắn là cái tên tục rất hay của MIREX. Một trong những đồng sự của Liêu và hiện đang làm Chủ tịch Hội đồng Khoa học và kỹ thuật của MIREX, là Trung tướng - Tiến sĩ khoa học - Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Nguyễn Hoa Thịnh, nguyên Giám đốc Học viện Kỹ thuật quân sự, nguyên Giám đốc Viện Khoa học công nghệ và kỹ thuật Bộ Quốc phòng và đang là Chủ tịch Hội Cơ học Việt Nam

*

*        *

Thật vui cho Liêu và đồng sự, ngày 25/5/2012 Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đã phê duyệt cho MIREX được hưởng cơ chế hỗ trợ như một dự án cơ khí trọng điểm quốc gia. Đặc biệt là, sau khi nghe, xem và thị sát MIREX, ngày 16/11/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn chỉ đạo và ngày 22/2/2013, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải lại có công văn thúc đẩy hỗ trợ MIREX. Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Văn phòng Chính phủ đều đã có công văn hướng dẫn Uỷ ban Nhân dân tỉnh Cao Bằng vào cuộc, và tất cả các cơ quan ấy cũng đã họp cùng nhau, cùng MIREX, để quyết định hỗ trợ MIREX cả hai hướng:

- Cấp mỏ, cấp quặng sắt tốt ở Cao Bằng cho MIREX.

- Hỗ trợ vốn vay cho MIREX.

Tất cả đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép vận dụng Quy chế thí điểm về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư để xây dựng phương án sản xuất với MIREX.

Theo đó, trong số 100 ngàn tấn sắt xốp/năm của MIREX, sẽ "Đầu tư ưu đãi nâng cấp để có 50.000 tấn sắt xốp chất lượng cao, nhằm cung cấp ổn định cho công nghiệp quốc phòng". Sẽ "Ưu đãi đầu tư từ Chương trình cơ khí trọng điểm và Chương trình huy động công nghiệp dân sinh tham gia phát triển công nghiệp quốc phòng, để xây dựng Nhà máy thép hợp kim 130.000 tấn/năm với dây chuyền công nghệ đồng bộ, đảm bảo sản xuất các sản phẩm thép hợp kim phục vụ nhu cầu của nền kinh tế quốc dân và công nghiệp quốc phòng".

Thế là, về lý thuyết, một "Cuộc cách mạng" trong ngành luyện kim Việt Nam, do MIREX đi tiên phong, đã nhận được sự ủng hộ khá triệt để của các nhà lãnh đạo các cấp, các ngành. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng hết sức cổ vũ. Dự án cũng rất cần sự vào cuộc của Bộ Khoa học và Công nghệ để có thể trở thành một dự án đột phá trong việc tạo ra vật liệu nguồn chất lượng cao cho ngành cơ khí và luyện kim Việt Nam

Mong sao, từ lý thuyết đến thực tế, từ giấy tờ đến thực địa, MIREX không phải chờ đợi quá lâu như nhiều dự án khác, bởi vì sức Liêu và đồng sự có hạn, hơn 600 tỷ đồng đã được họ đầu tư để có MIREX như hôm nay.

Hiện họ đang cạn vốn! Đã mấy tháng nay, cán bộ công nhân viên MIREX không có lương, không mua nổi bảo hiểm, nhà máy tạm ngừng hoạt động. Tuy chưa một cán bộ công nhân viên nào oán trách, mà vẫn đồng lòng kiên nhẫn cùng Ban giám đốc, nhưng dù sao, họ cũng phải sống! Bên cạnh đó, nếu việc cấp mỏ muộn và việc mua quặng sắt từ nhiều nguồn gặp khó về giá, về tiến độ, về thái độ hợp tác, thì "Cuộc cách mạng" này sẽ gặp phải thử thách quá lớn, thậm trí có nguy cơ... thất bại một cách tức tưởi!

Hãy đừng để "Giấc mơ thép" của chúng ta lại rời xa chúng ta, lại treo lơ lửng mãi trên đầu chúng ta!

Hãy để cho sự trong sáng và tính khoa học vượt trên tất cả!

Đã có định hướng lớn, MIREX cần cả sự ân cần, tận tâm, quyết liệt để sớm hoàn thành vai trò tiên phong của mình trong "Cuộc cách mạng" mà cả ngành thép và cả nền kinh tế phải hoàn thành, vì đây chính là cơ hội tự chủ của chúng ta cả trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc!

Tháng 3 năm 2013

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.