Qua khảo sát được biết, hiện Hà Nội có 10 khu công nghiệp, 1 khu công nghệ cao và 1 khu chế xuất với tổng số khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động với các hình thức sản xuất, gia công lắp ráp, kinh doanh, dịch vụ các mặt hàng công nghiệp. Ngoài ra còn có 36 cụm công nghiệp và hơn 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp (trong đó có hơn 150 xí nghiệp, nhà máy trong nội thành), các cơ sở sản xuất cũ vẫn còn tồn tại, hầu hết đều sản xuất phân tán với công nghệ lạc hậu.
Kết quả kiểm tra xử lý của cơ quan chức năng thời gian qua cho thấy các DN liên doanh hoặc các DN Việt
Các khu CN khác như Sài Đồng B, Nam Thăng Long chưa xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung. Các khu CN mặc dù đã có hệ thống xử lý nước thải nhưng chất lượng nước thải không đảm bảo, còn có một số chỉ tiêu vượt tiêu chuẩn cho phép.
Một số khu, cụm CN đã có quy hoạch xây dựng hệ thống xử lý nước thải nhưng đã sử dụng diện tích này để cho các DN thuê làm nhà xưởng hoặc sử dụng vào mục đích khác. Trong quá trình hoạt động sản xuất, các DN đã phát sinh ra các loại chất thải CN trong đó có chất thải CN thông thường và chất thải nguy hại (CTNH).
Phần lớn các DN ký hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý CTNH với các đơn vị chưa có đầy đủ về năng lực pháp lý, công nghệ xử lý và việc giám sát các đơn vị này để đảm bảo CTNH được xử lý triệt để còn lỏng lẻo, chưa được xử lý đúng theo pháp luật bảo vệ môi trường (BVMT). Hầu hết các DN trong các khu CN, cụm CN đều chưa có biện pháp khắc phục, xử lý triệt để về khí thải và tiếng ồn.
Để hạn chế thấp nhất tình trạng trên, các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác tuyên truyền trong lĩnh vực quản lý CTNH. Những vụ việc vi phạm điển hình, đặc biệt đối với các đơn vị vận chuyển, xử lý được cấp phép, các đối tượng vi phạm nhiều lần cần được thông tin trên các phương tiện thông tin để nhân dân biết, giám sát, vận động mọi người tham gia đấu tranh, tố giác tội phạm về môi trường, tạo ra áp lực mạnh mẽ của cộng đồng xã hội đối với các hành vi vi phạm.
Tiếp đó, cần tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước (Tổng cục Môi trường, Sở Tài nguyên môi trường) và cơ quan phòng ngừa đấu tranh trong lĩnh vực BVMT (Cục CSMT, Phòng CSMT các địa phương). Các bên theo sự phân công, phân cấp thường xuyên trao đổi thông tin, tình hình có liên quan trên địa bàn do mình quản lý về công tác BVMT nói chung và công tác quản lý CTNH nói riêng.
Và cuối cùng, phải kiên quyết áp dụng các chế tài xử lý tội phạm và vi phạm pháp luật về BVMT bình đẳng, đúng pháp luật, không có ngoại lệ để giáo dục, răn đe, ngăn ngừa tái phạm, tạo niềm tin và sự ủng hộ của các cấp, các ngành, quần chúng nhân dân trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về BVMT