Kỷ niệm những ngày "3 cùng" với đồng bào Khánh Sơn

Về lại chiến trường xưa, những người lính già lại trào dâng kỷ niệm. Những ngày tháng “3 cùng” đầy gian khổ với đồng bào dân tộc vùng núi Khánh Sơn đã khắc dấu ấn không thể phai mờ ttheo tháng năm!

Những ngày đầu năm 2012, tôi may mắn được theo chân đoàn cán bộ hưu trí công an về thăm lại chiến trường xưa, vùng núi Khánh Sơn, căn cứ địa cách mạng của Tỉnh ủy Khánh Hòa trong kháng chiến chống Mỹ. Những ngày đầu xuân, vùng cao Khánh Sơn chìm trong làn sương bảng lảng, tiết trời se lạnh.  Những người cựu binh năm xưa chuyện râm ran ôn lại kỷ niệm thời chiến với những cảm xúc còn tươi mới. Trong đó, tôi đặc biệt ấn tượng về câu chuyện học cách sống “3 cùng” với đồng bào dân tộc thiểu số Khánh Sơn của bác Phạm Hồng Xuất (sinh năm 1940, hiện sống ở Nha Trang)

Về lại chiến trường xưa, những kỷ niệm tưởng như đã ngủ yên trong ký ức lại tràn về. Năm 1971, từ Bộ đội chủ lực bác Xuất  được điều chuyển về đơn vị P63, thuộc Ban An ninh tỉnh, hoạt động tại địa bàn huyện miền núi Khánh Sơn của tỉnh Khánh Hòa. Bác Xuất tâm sự, ở bộ đội chủ lực tuy cuộc sống và chiến đấu rất gian khổ, đối diện giữa sự sống và cái chết, nhưng đơn giản, thoải mái, trước mắt chỉ lo đánh địch. Sang trận địa an ninh lại có nhiều khó khăn phức tạp, nhiều gian nan thử thách, những áp lực tưởng có lúc không vượt qua được, nhất là việc học cách sống “3 cùng” với đồng bào dân tộc ít người. “Cũng là cuộc đấu tranh với kẻ địch, nhưng không phải chỉ trên trận tuyến giành từng mảnh đất, mà còn là cuộc đấu tranh giành lại đồng bào, không để cho kẻ địch tuyên truyền lôi kéo theo chúng chống lại cách mạng.

Hơn nữa, “hễ đồng bào tin yêu thì cán bộ sống, sự nghiệp cách mạng còn, nhưng nếu đồng bào mất lòng tin thì tính mạng của cán bộ bị đe dọa, sự nghiệp cách mạng gặp khó khăn.

Kỷ niệm những ngày "3 cùng" với đồng bào Khánh Sơn ảnh 1
CA xa Khanh Son tuan tra.

Bác Xuất nhớ lại, thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào tưởng dễ, nhưng kỳ thực rất khó. Trước hết phải nắm vững những phong tục của đồng bào. Nhiều phong tục lạc hậu lâu đời, nhiều tập tục kỳ lạ, mê tín, dị đoan khó thay đổi. Vừa làm theo, duy trì những nét tốt, nhưng đồng thời giúp đồng bào từ bỏ những hủ tục lạc hậu. Rất nhiều phong tục cần sửa bỏ như: tục “nối dây”, nghĩa là khi người vợ chết, người chồng lại tiếp tục lấy em vợ, người em vợ chưa có chồng phải tiếp tục thay chị làm vợ của anh rể. Hay khi người mẹ mới sinh con chẳng may bị chết (mà việc này cũng thường xảy ra, do lúc đó điều kiện y tế kém), thì con bị buộc phải chôn theo mẹ. Đưa bé bị cột vào bụng mẹ nó rồi chôn theo, mặc cho đứa trẻ oe oe khóc. Dân bản nói: “Không chôn nó thì mẹ nó cũng về đòi con của nó”. Hay như tục mai táng rất sơ sài, mất vệ sinh, chỉ dùng lồ ô “mổ xạp”(dùng rựa banh cây lồ ô phẳng ra) và dây mây kết lại để cuốn người chết rồi chôn lấp sơ sài. Hoặc đôi khi để lộ thiên ngoài nhà mồ, phải canh chừng thú rừng suốt 3 ngày đêm mới chôn. Hay những tập tục cúng kiếng, mê tín tốn kém.

Cùng ăn thực tế chẳng dễ chút nào, nhiều món ăn không quen, thậm chí không hợp vệ sinh, vẫn phải ráng nuốt và không được tỏ thái độ khó chịu. Như món bắp hầm, bỏ vào trong vỏ bầu khô cùng nước suối, để khoảng 5, 7 ngày cho sình lên, bốc mùi mới ăn. Khi săn bắn, đặt bẫy được con nai, con heo rừng…, bà con lấy toàn bộ ruột non cho vào ống lồ ô, bịt lá chuối, gác lên bếp, 15, 20 ngày sau, khi thức ăn bốc mùi thối mới đem nấu, thêm mấy hạt muối được coi là món ăn rất quý. Có trường hợp, con thú dính cung, dính bẫy, bị thương, bỏ chạy xa rồi chết, có người trong bản phát hiện được lúc thịt thú đã thối rữa, kêu cả bản ra lấy thịt. Thứ thịt thúi rữa này như bùn non. Dùng tay bụm thịt chát lên những cục đá to để phơi, khi khô bóc từng mảng như bánh tráng. Lúc nấu canh, lấy thứ “bánh tráng” này xé vài miếng bỏ vô. Món này bà con dân tộc cũng rất quý. Tới mùa thu hoạch lúa, bắp, hoặc có cưới hỏi, được mời tới “ăn nhang”(ăn tiệc cưới, hỏi, ma chay…), lại “phải ăn” thịt nướng hoặc luộc vẫn còn sống. Thịt heo, bò nướng, luộc chưa chín, được sắt nhỏ cỡ hạt bắp, trộn đều với nhau, vào buổi tiệc, già làng một tay ôm cổ cán bộ (khách quý), tay kia bốc một nắm thịt thật to nhét vào miệng cán bộ, cán bộ phải cố nuốt không được tỏ thái độ, sau đó cán bộ lại làm lặp lại cho già làng, gọi là “Tơm”.  

Mỗi khi về đơn vị báo cáo hay đi công tác xa trở về bản lại có tục đón. Dân bản luộc một quả trứng gà, đưa kèm một sợi dây gai cho cán bộ, tự cán bộ dùng dây gai xiết quả trứng làm ba phần không bằng nhau (Không được dùng dao cắt hoặc dùng tay bẻ trứng), sau đó chia phần lớn nhất cho người già nhất nhà; phần lớn thứ hai cho em bé nhỏ nhất nhà; còn phần nhỏ nhất thuộc về cán bộ. Nếu sơ ý ăn hết, hoặc làm không đúng nghi lễ, bị dân bản coi là phản bội dân bản.

Với đồng bào dân tộc, hạt muối quý như vàng, nhiều khi cán bộ đã đưa hết muối cho dân, nhưng bà con vẫn nghĩ cán bộ còn cất giấu, nên khi con khóc, họ đòi: “Cán bộ à, chỉ có hạt muối bỏ vào miệng nó, nó mới nín”. Cán bộ lại phải giải thích đã đưa hết muối cho dân rồi, họ mới lấy hạt muối ra cho vào miệng đứa bé.

Kỷ niệm những ngày "3 cùng" với đồng bào Khánh Sơn ảnh 2
Đội văn nghệ Raglay huyện Khánh Sơn.

Cùng ở cũng chẳng dễ hơn. Đồng bào ăn ở còn thiếu vệ sinh, phải hướng dẫn nhiều lần để họ có thói quen sạch sẽ. Những cháu nhỏ ở dơ bẩn bị ghẻ lở, mụn nhọt, cán bộ phải tắm cho chúng. Với thanh thiếu niên thì gần gũi bày các cháu học tiếng Kinh, học cái chữ, dạy các cháu hát, múa. Với già làng phải nhường, phải kính. Biết muỗi rừng đốt sẽ bị sốt rét, căng võng, phủ bạt nằm, nhưng nếu người già thích nằm thì phải nhường ngay. Khi có người ốm thì vào rừng lấy lá xông, bày cho dân bản cách xông, cho họ thuốc từ cơ số thuốc cá nhân đơn vị cấp cho cán bộ.

Tranh thủ khi vui, lúc hội hè, nhờ dân bản dạy cán bộ đánh cồng, chiêng, để khi uống rượu cần dễ hòa nhập. Đồng bào dân tộc ít người ở Khánh Sơn chủ yếu gồm người Churu, Raglai và người Êđê, hầu hết đều không nói được tiếng Kinh. Vì vậy để “3 cùng” không thể không học tiếng nói của đồng bào trước khi dạy đồng bào tiếng Kinh.

Có những lúc cũng giả đò say rượu, để xem đồng bào nhận xét cán bộ thế nào và còn để giữ sức khỏe cho công tác ngày mai. Có một lần uống rượu bác Xuất giả say, nghe được câu chuyện của già làng. Già làng nói với mọi người: “Ông Thiệu dặn, khi nào Cộng sản nó quá tốt với dân làng là nó sắp giết mình đấy, mình phải giết nó trước đi”. Một cô gái trẻ cất giọng: “Làm vậy không được đâu! Cán bộ Xuất nó tốt thật với mình, sao lại giết nó?”. Nghe được câu chuyện, bác Xuất quay sang nói nhỏ với Hà Long, một thanh niên người dân tộc, phụ trách bản: “Anh Hà Long có nghe thấy bà con nói gì không? Anh phải giải thích cho đồng bào đi chứ?”. Hà Long quay qua bác Xuất sửng sốt hỏi: “Tao tưởng mày không biết tiếng cơ mà?”. Bác Xuất lại nói: “Biết ít thôi, nhưng ý tứ tao hiểu được”. Lúc đó Hà Long liền đứng lên giải thích cho đồng bào: “Cán bộ Xuất nó thực lòng, tin bà con, gắng giúp cho dân bản có cơm no, áo ấm, dạy trẻ biết cái chữ, đánh giặc càn, giữ bản làng. Phải tin ở cán bộ Xuất, tin thực lòng. Mình nói gì, cán bộ Xuất nó đều hiểu cả đấy!”.  

Cùng làm cũng có rất nhiều khó khăn. Lúc đầu tưởng việc phát rẫy, tỉa bắp, lấy măng, gùi lúa có gì không làm được? Nhưng không phải vậy, có nhiều điều phải hướng dẫn bà con làm mới, từ bỏ thói quen cũ. Đơn giản như bà con thường 8, 9 giờ sáng mới lên rẫy, vào rừng, rồi mới 3, 4 giờ chiều đã về, tối uống rượu cần suốt đêm. Thật trái quy luật, lúc nắng thì đi làm, lúc mát thì nghỉ. Uống rượu nhiều không đảm bảo sức khỏe. Phải hướng dẫn bà con một số kỹ thuật chọn giống, cất giữ giống, cải tạo đất, đặc biệt tránh việc du canh, du cư, phá rừng, đốt rẫy, làm nương. Lên rẫy gùi lúa, gùi bắp, vào rừng vác củi, hái măng hay đi bắt cá, bẫy thú, việc gì mình cũng phải làm trước, nhận phần nặng nhọc về mình, đừng để đồng bào nói “Cái cán bộ nó khỏe mà sao mang ít thế?”.

Khánh Sơn vốn là căn cứ cách mạng cả trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, nhưng giai đoạn 1969 - 1971 (sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân -1968), địch quay lại mở nhiều chiến dịch càn quét, lùng sục bắt bớ cán bộ, chúng sử dụng cả đám Fulro (người dân tộc ít người) làm tay sai, nhiều vùng trở thành “vùng trắng”, ta phải kiên trì bám dân, gầy dựng lại từ đầu. Việc “3 cùng” được với đồng bào, tạo được niềm tin yêu của dân bản, đã lôi kéo được đồng bào không sợ địch, không nghe theo địch, tẩy chay cả những tên tay sai người dân tộc của chúng. Như trường hợp tên Sàva, tự xưng là Đại tá, hù dọa bà con, không cho bà con giúp đỡ, che chở cán bộ cách mạng, đã bị bà con lột chân tướng tay sai của địch, tẩy chay nhóm Fulro của nó, làm cho chúng dần dần tan rã.

Cuối năm 1973, do yêu cầu công tác, bác Xuất được cấp trên điều đi làm nhiệm vụ mới, buổi chia tay dân bản diễn ra đầy lưu luyến, cảm động. Già làng họp bà con lại rồi nói: “Cán bộ Xuất nó sắp phải đi rồi, ngày mai ta nghỉ làm rẫy, lên rừng bắt con thú, xuống suối bắt con cá về uống rượu cần chia tay cán bộ Xuất. Nhờ cán bộ Xuất nói với cấp trên sớm cho nó trở lại với dân bản”.

Những năm tháng cùng sống và hoạt động với đồng bào miền núi Khánh Sơn tuy rất gian khổ, thiếu thốn và cả hiểm nguy, nhưng nhờ “3 cùng” được với đồng bào, được đồng bào tin yêu, che chở, đùm bọc, bác Xuất đã hoàn thành tốt nhiệm vụ cấp trên giao. Những kỷ niệm thời gian “3 cùng” với đồng bào trong chiến tranh là những kỷ niệm đẹp trong cuộc đời hoạt động cách mạng của bác Xuất.

Trở lại Khánh Sơn lần này, nhìn những đổi mới tươi đẹp từ những cánh đồng lúa tươi xanh, những rẫy bắp, rẫy mì bát ngát, lại thêm những vườn chuối, vườn cà phê, hồ tiêu, hay những vườn sầu riêng thơm ngọt, đặc sản của Khánh Sơn. Cảnh các cháu trẻ em dân tộc ánh mắt hân hoan cắp sách tới trường. Những thanh niên nam, nữ vui vẻ chuyện trò trên đường lên rẫy. Cái bắt tay ấm cúng, hồ hởi của những người già, khiến không chỉ bác Xuất mà tất cả các thành viên trong đoàn đều bồi hồi xúc động. Quê hương Khánh Sơn đang đổi thay cùng đất nước.

Bác Phạm Hồng Xuất sinh năm 1940, quê ở tỉnh Hưng Yên, đi B năm 1964. Năm 1971, từ Bộ đội chủ lực được điều động về Ban An ninh Khánh Hòa (P63). Sau giải phóng miền Nam, bác về công tác tại Phòng Cảnh sát 4, Ty Công an Khánh Hòa. Nghỉ hưu năm 1982. Hiện nay tuổi cao nhưng bác vẫn tích cực tham gia và là Hội viên: Hội Unesco Việt Nam; Hội VHNT tỉnh Khánh Hòa; Hội sinh vật cảnh tỉnh Khánh Hòa. Đã có 2 tập thơ được xuất bản.

Hồng Xuất - Minh Cường

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.