Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm: Từ cậu bé kỳ lạ đến thủ lĩnh phong trào yêu nước

Kỳ Đồng quả là một con người kỳ lạ. Cuộc đời của nhà yêu nước tiêu biểu trong phong trào khởi nghĩa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được người dân với lòng tôn kính đã phủ lên một bức màn linh thiêng, huyền bí. 

Từ cuộc rước cờ năm Kỳ Đồng 13 tuổi đến cuộc mộ dân lập ấp ở Yên Thế;  từ những cuộc gặp gỡ với vua Hàm Nghi ở Algerie đến mối liên hệ với thủ lĩnh phong trào Yên Thế là Đề Thám; từ việc bị bắt trong đêm đến những tháng ngày lưu đày đằng đẵng ngoài biển khơi…

Trải qua những thăng trầm biến đổi, phải đối phó với những âm mưu, kế hoạch của thực dân Pháp, Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm trước sau vẫn một lòng yêu nước, quyết chống xâm lăng.

Biệt hiệu “Kỳ Đồng”

Ngày 8-10-1875, tại làng Ngọc Đình, tổng Hà Lý, huyện Duyên Hà, phủ Tiên Hưng (nay là xã Văn Cẩm, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), một bé trai cất tiếng khóc chào đời trong gia đình nhà nho nghèo, được cha mẹ đặt tên là Nguyễn Văn Cẩm. Cha đứa bé là thầy đồ Tỵ, đỗ nhị trường, làm nghề dạy học và đan rổ rá, đóng cối xay. Lên 6 tuổi, Nguyễn Văn Cẩm đã được học chữ Nho, hàng ngày vừa nghe cha đọc sách vừa dò theo chữ, hay chất vấn nghĩa lý. 

Năm lên 8 tuổi, tư chất thông minh, khả năng sáng tác thơ phú và làm câu đối ứng khẩu của cậu bé Cẩm đã nổi tiếng khắp vùng khiến nhiều người ngạc nhiên.

Chuyện kể rằng một hôm ông huấn đạo huyện Duyên Hà là Bùi Tam Đồng cùng hai người khác đến xem mặt cậu bé kỳ lạ. Thấy cậu bé Cẩm đang ngồi ở cầu ao chơi thuyền vỏ trứng, ông liền nói: “Nghe nói cậu hay chữ lắm. Ta đến đây ra cho cậu một vế đối”. Thấy Cẩm tóc còn để chỏm, hai bên hai trái đào, ông huấn Đồng ra vế đối: “Một thằng ba chỏm tóc”. Cẩm lập tức ứng khẩu: “Ba cụ chín chòm râu”.

Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm (1875-1929).
Kỳ Đồng Nguyễn Văn Cẩm (1875-1929).

Ông huấn đạo hết sức ngạc nhiên, càng ngạc nhiên hơn khi cậu bé bảo chưa học một ông thầy nào cả, bèn báo cho các quan tỉnh biết về cậu bé khác thường này. Quan đầu tỉnh gọi cậu bé Cẩm đến ra câu đối “Khổng môn truyền đạo chư hiền: Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử”. Cẩm đối lại: “Chu thất khai cơ liệt thánh: Thái Vương, Vương Quý, Văn Vương”.

Cũng năm này Cẩm được cha dẫn lên tỉnh dự kỳ khảo khóa để năm sau thi hương ở trường Nam Định và đã đạt loại “ưu”. Quan tỉnh tâu về triều, vua Tự Đức xuống dụ cấp cho trẻ lạ tức Nguyễn Văn Cẩm mỗi tháng ba quan tiền, một phương gạo, áo quần mỗi thứ hai cái, mỗi năm cho một lần.

Dân trong vùng còn ngưỡng mộ trước khả năng tiên tri của Kỳ Đồng, truyền tai nhau những câu sấm truyền của cậu bé. Giai thoại về “cậu bé kỳ lạ” (kỳ đồng) ngày một nhiều thêm và vang xa, “Kỳ Đồng” trở thành biệt hiệu của Nguyễn Văn Cẩm.

Đứa bé lớn lên trong bối cảnh thực dân Pháp chiếm thành Nam Định lần thứ nhất (1873) và lần thứ hai (1884). Phong trào chống Pháp diễn ra sôi nổi khắp Bắc Kỳ và bị đàn áp dã man, trong đó có Thái Bình quê Nguyễn Văn Cẩm. Những năm 1886-1887, Thái Bình chìm trong cảnh đói khát, khổ cực, người dân bị đánh đập, bắt bớ.

Nhưng cũng chính trong giai đoạn này, hiện tượng Kỳ Đồng như một luồng ánh sáng chiếu vào đêm đen. Người dân đói khổ hết lời ca ngợi và ngưỡng vọng trước tài năng của Kỳ Đồng, rủ nhau đến tận làng Ngọc Đình xem mặt cậu bé kỳ lạ. Trong số đó có cả những sĩ phu yêu nước khắp các vùng Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình. 

Họ hy vọng tìm được một người xuất chúng làm thủ lĩnh mới để nhen nhóm lại phong trào chống Pháp. Tiếng tăm và ảnh hưởng của Kỳ Đồng khiến thực dân Pháp bắt đầu nghi ngại và chú ý đến cậu bé nhiều hơn.

Một sự kiện xảy ra đánh dấu bước ngoặt của cuộc đời Nguyễn Văn Cẩm. Ngày 27-3-1887, một đám rước khoảng 100 người khăn áo chỉnh tề, giương cờ hiệu “Thiên binh thần tướng”, với kiếm gỗ, giáo gỗ, rước Kỳ Đồng khi đó là một cậu bé 13 tuổi tiến về thành Nam Định. Cuộc rước cờ đã bị binh lính bắn thị uy giải tán, Kỳ Đồng và 7 người khác bị bắt giữ.

Sau sự kiện này, Pháp lo sợ Kỳ Đồng có thể làm những điều nguy hiểm hơn, nên đã gửi cậu bé sang học tại Trường Trung học Alger ở Algerie (thuộc địa của Pháp lúc đó). Pháp lấy lí do coi trọng nhân tài thuộc địa nên gửi Kỳ Đồng sang mẫu quốc để cậu bé được tiếp cận học vấn châu Âu. Kỳ thực, chúng muốn tách Kỳ Đồng khỏi phong trào yêu nước của người dân và âm mưu biến Kỳ Đồng thành tay sai đắc lực.

Sau 9 năm (1887-1896) học tập tại Algerie, Kỳ Đồng tốt nghiệp tú tài khoa học toàn phần, tinh thông các ngành nghệ thuật quân sự, thành thạo tiếng Pháp. Cũng chính trong thời gian này, Kỳ Đồng đã bí mật gặp gỡ vua Hàm Nghi đang bị lưu đày tại đó và hai người thường trao đổi với nhau về tình hình trong nước.

Lưu đày biệt xứ

Tháng 11-1896, thực dân Pháp cho Kỳ Đồng về nước và tin rằng sau 9 năm “du học”, Kỳ Đồng đã là “người Pháp” thực thụ và trung thành với nước Pháp. Nhưng chúng không thể ngờ rằng, ngay khi về nước, Kỳ Đồng đã nhanh chóng trở thành thủ lĩnh của phong trào yêu nước ở Bắc Kỳ.

Lấy lí do “muốn làm điều tốt lành cho dân chúng An Nam và phụng sự người Pháp”, Kỳ Đồng đã khéo léo từ chối mọi công việc mà thực dân Pháp giao cho. Kỳ Đồng trở về Thái Bình, mở trường dạy chữ Nho và tiếng Pháp đồng thời soạn tài liệu chữ Nôm theo thể văn vần vừa để dạy tiếng Pháp, vừa để khơi gợi tinh thần yêu nước chống Pháp.

Tiếc rằng trường học mở ra chưa được bao lâu thì bị buộc phải đóng cửa. Kỳ Đồng làm giỗ cha rất trọng thể để tạo cớ hợp pháp gặp gỡ những nhà yêu nước trong vùng. Ông dành nhiều thời gian đi thăm hỏi bạn bè và các danh sĩ ở Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương nhằm tìm cách nhen nhóm phong trào chống Pháp.

Vì vậy ngay khi Kỳ Đồng trở về nước, tiếng tăm và những giai thoại về ông lại nổi lên, thu hút sự quan tâm của dân chúng. Đám cưới của Kỳ Đồng với cô Trai – người con gái nết na xinh đẹp nhất làng Ngọc Quế (huyện Quỳnh Côi, Thái Bình) được tổ chức linh đình, thu hút nhiều người đến tham dự. 

Để gây dựng cơ sở ở vùng trung du, Kỳ Đồng đề nghị người Pháp cho phép mộ dân lên khai khẩn đất hoang ở vùng Yên Thế (Bắc Giang) để tăng dân vùng thượng du, làm ra của cải để “Bắc Kỳ ngày càng thịnh vượng”.

Tranh dân gian về Kỳ Đồng được công bố tại Paris năm 1909, vẽ cảnh Kỳ Đồng ngồi nghe cha đọc sách và dò theo chữ.
Tranh dân gian về Kỳ Đồng được công bố tại Paris năm 1909, vẽ cảnh Kỳ Đồng ngồi nghe cha đọc sách và dò theo chữ.

Thực dân Pháp theo dõi nhất cử nhất động của Kỳ Đồng từ khi về nước, rất lo ngại trước những hoạt động của ông và muốn cách ly nhân vật này với phong trào yêu nước ở đồng bằng. Vì thế, chính quyền thực dân Pháp buộc phải đồng ý cho Kỳ Đồng lên mộ phu ở Yên Thế.

Đến tháng 9-1897, cuộc tuyển mộ người lên Yên Thế khai hoang do Kỳ Đồng tổ chức đã nhanh chóng biến thành phong trào di dân từ các tỉnh đồng bằng lên trung du. Trong số hàng ngàn người di dân có những thành phần đặc biệt, đó là các nho sĩ, trí thức, lính tập và lính khố đỏ. 

Với vỏ bọc “đồn điền” hợp pháp, Kỳ Đồng đã xây dựng khu Chợ Kỳ (Yên Thế) thành một căn cứ tích trữ lương thực, rèn vũ khí, liên lạc với các địa phương, chỉ đạo phong trào chống Pháp ở đồng bằng. Không phải ngẫu nhiên mà Kỳ Đồng lại chọn vùng Yên Thế làm nơi khẩn hoang, bởi ông muốn bắt liên lạc với Hoàng Hoa Thám – thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa nông dân tại vùng này.

Thực tế sau khi lập đồn điền Chợ Kỳ, Kỳ Đồng đã hỗ trợ lương thực và củng cố lực lượng cho nghĩa quân Đề Thám. Những sáng tác thơ ca của Kỳ Đồng thời kì này nhằm động viên nghĩa quân khẩn hoang và tuyên truyền tinh thần chống Pháp lan truyền khắp nơi. Nhân dân các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Kỳ nhất nhất tin theo hai vị thủ lĩnh và lan truyền câu “Nhất ông Kỳ, nhì ông Thám”. Thực dân Pháp đã đánh hơi được mối liên hệ này và theo dõi sát sao.

Ngày 21-9-1897, mật thám phát hiện người của Kỳ Đồng đang khẩn trương dỡ những kiện hàng dài nhưng vẫn để lộ ra những nòng súng xếp chéo. Mối nghi ngờ của Pháp rằng đồn điền Chợ Kỳ là một “căn cứ trá hình” của “ông chủ đồn điền” Kỳ Đồng đã được làm sáng tỏ. 

Pháp đã cho người bí mật bắt Kỳ Đồng vào đêm 22-9-1897 ngay tại căn cứ Chợ Kỳ và thu được nhiều tài liệu, tiền bạc, vũ khí và cả bản tuyên cáo về một cuộc nổi dậy đồng loạt mà nghĩa quân chưa kịp tiêu hủy.

Sau khi bắt Kỳ Đồng, Pháp vội vàng đưa ông lên một chiếc thuyền máy chờ sẵn ở phủ Lạng Thương để chở ra Hải Phòng, sau đó vào Sài Gòn. 

Thực dân Pháp một mặt không đưa Kỳ Đồng ra tòa án xét xử nhằm bưng bít dư luận, đề phòng phản ứng của dân chúng, một mặt muốn đưa Kỳ Đồng đến một nơi cách biệt với Đông Dương để loại bỏ hoàn toàn khả năng nổi dậy của ông nên sau khi giam ông ở Sài Gòn 3 tháng đã đày ông đi biệt xứ vào đầu năm 1898. Mặc dù kế hoạch nổi dậy của Kỳ Đồng thất bại nhưng đã để lại tiếng vang và tầm ảnh hưởng với các phong trào tại Bắc Kỳ sau này.

Kỳ Đồng bị đưa đi lưu đày ở quần đảo Polynesie – là thuộc địa của Pháp ngoài đại dương mênh mông thuộc vùng châu Đại Dương. Thời gian đầu, Kỳ Đồng bị đưa đến Papeete thuộc quần đảo trên. Nhưng mấy năm sau, Pháp nhận thấy để một tù nhân chính trị trẻ tuổi lại giỏi tiếng Pháp ở đây không có lợi nên đã phái ông đến quần đảo Marquises làm y tá lưu động phụ trách việc tiêm chích và phát thuốc cho dân bản xứ.

Tại đây, một sự tình cờ thú vị đã đến với Kỳ Đồng. Khoảng giữa tháng 9-1901, một họa sĩ Pháp tên là Paul Gauguin đã đến đảo. Giữa vị họa sĩ tài hoa muốn xa lánh cuộc sống châu Âu giả tạo, phản đối chính quyền thuộc địa, bênh vực người bản xứ và người thanh niên yêu nước Kỳ Đồng nhanh chóng có sự gặp gỡ, đồng cảm và thân tình. Họ trở thành đôi bạn thân thiết dù cách biệt về mặt tuổi tác (Kỳ Đồng kém họa sĩ Gauguin 27 tuổi). 

Cũng trong thời kì này Kỳ Đồng đã sáng tác một vở kịch thơ bằng tiếng Pháp có nhan đề Những mối tình của người họa sĩ già trên quần đảo Marquise dựa trên câu chuyện thực của ông bạn họa sĩ già trên đảo.

Cuộc sống lưu đày của Kỳ Đồng kéo dài 30 năm ở một nơi xa tổ quốc. Trong những năm tháng xa xứ, Kỳ Đồng đã lấy vợ người bản địa và sinh con. Ngay cả khi trút hơi thở cuối cùng vào ngày 17-7-1929 lúc 54 tuổi, Kỳ Đồng vẫn mang trong lòng niềm ái quốc và nỗi u uất khi không thể trở về đất mẹ Việt Nam.

Huyền Châm

Các tin khác

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.