Kinh tế châu Âu suy giảm vì dịch COVID-19

Đại dịch COVID-19 là một cú sốc lớn đối với nền kinh tế toàn cầu và châu Âu. Các chính phủ châu Âu đã áp đặt nhiều biện pháp hạn chế chưa từng có trong thời bình. Những biện pháp như vậy được đánh giá là gây ra hậu quả kinh tế rất lớn, và được cảm nhận thông qua cả hai kênh cung và cầu. Bên cạnh đó, nó cũng khiến châu Âu đối mặt với một cuộc khủng hoảng y tế.

Phản ứng của châu Âu và những dự báo ảm đạm

Phản ứng của châu Âu đối với đại dịch cho đến nay là chậm trễ và thiếu phối hợp. Theo dữ liệu của Đại học John Hopkins, tốc độ gia tăng các ca nhiễm bệnh ở các nước đi theo mô hình tương tự nhau, Italy đi đầu, tiếp theo là Tây Ban Nha, Pháp, Đức và Vương quốc Anh. Tuy nhiên, chính phủ các quốc gia đang đưa ra các biện pháp khác nhau để xử lý cuộc khủng hoảng này, thay vì một giải pháp có tính chất phối hợp cùng nhau.

Các cách tiếp cận khác nhau này có thể sẽ kém hiệu quả trong việc kiềm chế virus SARS-CoV-2 hơn là một chiến lược thống nhất. Lợi ích quốc gia không phải lúc nào cũng phù hợp với lợi ích của khu vực, ví dụ như Đức và Pháp đã hạn chế xuất khẩu khẩu trang y tế bất chấp lời cầu xin từ Italy - quốc gia đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt.

Theo Bộ phận tư vấn kinh tế của Anh (EIU), cú sốc kinh tế đối với châu Âu là sự kết hợp giữa nhưng hiệu ứng của cả cung lẫn cầu, vì các chính phủ trong khu vực đã áp đặt nhiều biện pháp hạn chế chưa từng có trong thời bình đối với người dân nhằm trì hoãn thời kỳ đỉnh điểm của dịch bệnh và bảo vệ hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Cảnh vắng vẻ tại Rome, Italy, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 lan rộng.
Cảnh vắng vẻ tại Rome, Italy, trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 lan rộng.

Cú sốc ban đầu về nguồn cung xuất phát từ sự gián đoạn trong chuỗi cung ứng, và tiếp sau đó là tác động của việc người lao động không thể đến nơi làm việc. Cú sốc ban đầu về nhu cầu xuất phát từ sự không chắc chắn về tình hình y tế và sức khỏe, khiến người tiêu dùng giảm bớt tương tác vật lý với người khác và khiến các công ty trì hoãn đầu tư.

Sự tụt giảm thu nhập và doanh thu đã khiến nhu cầu tiếp tục giảm và dẫn tới sự cắt giảm nguồn cung khi các công ty gặp khó khăn trong việc trả lương cho nhân viên và đáp ứng các nghĩa vụ tài chính. Những tác động gián tiếp có khả năng sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi các biện pháp phong tỏa được duy trì trong thời gian dài hơn: Nhu cầu sẽ giảm khi người tiêu dùng trì hoãn hay thậm chí hủy bỏ tiêu dùng.

Mặc dù mức độ tiêu dùng trong một số loại hình tiêu dùng có thể sẽ được bù đắp sau khi cuộc khủng hoảng y tế đã chấm dứt, nhưng khả năng là các loại hình khác sẽ không thể khôi phục được – chẳng hạn như việc đi ăn tại các nhà hàng. 

Cuối cùng, nhu cầu chịu tác động của hiệu ứng lòng tin. Do quan ngại về tương lai, các công dân có thể sẽ gia tăng mức tiết kiệm phòng ngừa. Vấn đề y tế này càng kéo dài thì những khó khăn kinh tế cũng càng dai dẳng.

Những diễn biến trên đã làm thay đổi hoàn toàn triển vọng kinh tế của khu vực. Theo EIU, dự báo kinh tế của châu Âu sẽ chỉ tăng trưởng 0,8% (dự báo trước đây là 1,6%), Khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) tăng trưởng 0,4% (dự báo trước là 1,2%).

Trong khi đó, các nền kinh tế lớn của châu lục được dự báo có tốc độ tăng trưởng kinh tế lần lượt là Đức 0,3%; Pháp 0,5%; Anh 0,6% và Italy là -1,1%. Những chỉ số trên được điều chỉnh khi mới chỉ tính đến tác động của việc thời gian làm việc bị cắt giảm, người dân và nhà đầu tư trì hoãn quyết định chi tiêu và đầu tư, thất bại trong kinh doanh, giao dịch thương mại và du lịch suy giảm, cũng như các biện pháp của chính phủ đã công bố giải quyết, hỗ trợ các vấn đề trên.

Và nếu tính thêm việc các phản ứng chính thức của chính phủ thất bại do sự cố phối hợp giữa các quốc gia hoặc sự cố hệ thống y tế, khủng hoảng nợ doanh nghiệp hay niềm tin của công chúng vào chính phủ hoặc trật tự công cộng đổ vỡ, thì con số trên chắc chắn sẽ còn thấp hơn nữa. Tất cả những rủi ro này đều làm cho triển vọng kinh tế xấu đi.

Những lĩnh vực kinh tế bị tác động nhiều nhất

Các hãng hàng không, du lịch, cũng như khách sạn, giải trí và bán lẻ, sẽ chịu sức ép lớn nhất trong ngắn hạn. Lượng khách ở các phố mua sắm sẽ giảm khi người tiêu dùng chuyển sang mua sắm trực tuyến - một xu hướng có khả năng được duy trì ngay cả sau khi cuộc khủng hoảng qua đi. Các công ty vốn đã khó khăn sẽ là những người đầu tiên phá sản.

Ví dụ, Hãng hàng không Flybe của Anh đã tuyên bố phá sản hồi đầu tháng này. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thường có dòng tiền mặt dự phòng kém hơn so với các doanh nghiệp lớn, sẽ gặp nhiều khó khăn để tiếp tục hoạt động và trả nợ. Rộng hơn, có nguy cơ xảy ra khủng hoảng tín dụng doanh nghiệp khi hơn một nửa số nợ của các nhà sản xuất ôtô châu Âu sẽ đến hạn vào cuối năm 2021.

Tuy nhiên, cũng phải kể đến những tác động tích cực đối với một số lĩnh vực, ví dụ như các nhà sản xuất vật tư y tế và đồ vệ sinh sẽ có đơn đặt hàng tăng đột biến, và khi các công ty cho phép nhân viên làm việc tại nhà, doanh số phần cứng công nghệ thông tin sẽ tăng mạnh.

Những biện pháp này sẽ giúp hạn chế số lượng doanh nghiệp phá sản và hỗ trợ những người không thể làm việc do các biện pháp kiểm dịch, điều này sẽ giảm thiểu tác động đến các nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, điều này sẽ dẫn đến việc thâm hụt ngân sách tăng cao trên khắp châu Âu.

Không chỉ kinh tế, cuộc khủng hoảng này còn tác động nhiều đến lĩnh vực chính trị. Các biện pháp được thực hiện để ngăn chặn dịch bệnh không có lợi cho hoạt động dân chủ thông thường. Tại Đức, đảng của Thủ tướng Angela Merkel dự kiến tại đại hội đảng sẽ bầu lãnh đạo mới vào ngày 25/4, nhưng điều này đã bị hoãn vô thời hạn.

Trong khi đó nước Pháp, dù gây tranh cãi, vẫn tiến hành cuộc bầu cử cấp thành phố trên toàn quốc vào ngày 15/3. Vương quốc Anh đã hoãn cuộc bầu cử địa phương vào tháng 5/2020 sang năm 2021. Cuộc bầu cử quốc hội tại Bắc Macedonia dự kiến vào ngày 12/4 và tại Serbia vào ngày 26/4, nhưng có thể bị hủy bỏ, tương tự là một loạt các cuộc bầu cử tại Trung và Đông Âu trong những tháng tiếp theo.

Nhiều nghị sỹ trên toàn khu vực đã phải tự cách ly và nếu dịch bệnh lan rộng trong các cơ quan làm luật, các phiên họp Quốc hội có thể buộc phải trì hoãn và việc hoạch định chính sách bị đình trệ. Rộng hơn, đại dịch có thể dẫn đến sự thay đổi những ưu tiên chính trị ở châu Âu.

Khi mọi người trở nên ác cảm hơn, những chính trị gia thể hiện mình là “nước đôi an toàn” sẽ được hưởng lợi. Năng lực chính trị và tổ chức sẽ trở nên hấp dẫn hơn, và các chính quyền được cho là đã xử lý không tốt cuộc khủng hoảng này sẽ chịu áp lực.

Không ai có thể biết cuộc khủng hoảng này sẽ kéo dài bao lâu và bao nhiêu người sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng hiện trong giai đoạn này, tác động kinh tế đã là rất lớn. Các biện pháp càng mất nhiều thời gian để hạn chế virus và càng nghiêm khắc, thì tác động của chúng đối với nền kinh tế toàn cầu càng lớn.

Ngoài việc đối phó với cuộc khủng hoảng, các nhà hoạch định chính sách cũng cần phải suy nghĩ về các biện pháp lâu dài sau khi dịch bệnh bị đẩy lùi. Biện pháp nào sẽ cần thiết để khởi động lại nền kinh tế? Đây không chỉ là một câu hỏi dành riêng cho EU mà còn cho cả nền kinh tế toàn cầu, khi các khu vực khác nhau trên thế giới có thể đang trong các giai đoạn khác nhau của cuộc chiến chống virus.

Đại dịch có thể khiến nhiều người suy nghĩ lại về các mối quan hệ kinh tế đầy rủi ro và mô hình sản xuất trên toàn cầu. Liệu các công ty có quyết định tăng số cổ phiếu để chuẩn bị tốt hơn cho tương lai nhằm đối phó với những gián đoạn trong chuỗi cung ứng hay không? Liệu họ có thu hẹp các chuỗi cung ứng để tránh bị tổn thương trước các cú sốc như vậy hay không? Và hoạt động du lịch quốc tế sẽ thay đổi ra sao? Một cuộc khủng hoảng như vậy cũng là một cơ hội để xem xét lại các mô hình kinh doanh, và có lẽ cân nhắc cả đến mối đe dọa đối với khí hậu, để đánh giá lại sự lưu động hàng hóa và công dân trên khắp thế giới.

EU có vai trò rõ ràng trong việc thể hiện sức mạnh hợp tác với người dân. Điều quan trọng là các thể chế của EU phải cung cấp hỗ trợ trong ngắn hạn và phối hợp phản ứng giữa các nước. EU cũng cần tăng cường hỗ trợ cho việc phát triển thuốc và vaccine, những hàng hóa công cộng thực sự, khi các khích lệ đối với các công ty dược phẩm tư nhân có thể không đủ.

Hải Hà (tổng hợp)

Các tin khác

Hàn Quốc có nữ Thủ tướng

Hàn Quốc có nữ Thủ tướng

Quốc hội Hàn Quốc phê chuẩn bà Han Seong-sook giữ chức Thủ tướng, giúp bà trở thành nữ Thủ tướng thứ hai trong lịch sử đất nước.

Quyền Tổng thống Venezuela cảm ơn Việt Nam

Quyền Tổng thống Venezuela cảm ơn Việt Nam

Trên mạng xã hội X, quyền Tổng thống Venezuela Delcy Rodríguez gửi lời cảm ơn chân thành đến Việt Nam vì sự hỗ trợ kịp thời trong bối cảnh quốc gia Nam Mỹ này đang vật lộn để khắc phục hậu quả trận động đất kép kinh hoàng.

Peru lần đầu có nữ tổng thống dân cử

Peru lần đầu có nữ tổng thống dân cử

Bà Keiko Fujimori đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Peru năm 2026, trở thành nữ tổng thống đầu tiên được người dân nước này bầu trực tiếp. Kết quả đánh dấu cột mốc lịch sử đối với nền chính trị Peru, đồng thời đưa dòng họ Fujimori trở lại nắm quyền sau hơn hai thập kỷ.

Tổng thống Putin bác đề xuất ngừng không kích của Ukraine

Tổng thống Putin bác đề xuất ngừng không kích của Ukraine

Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 28/6 tuyên bố Moskva sẽ tiếp tục thúc đẩy mục tiêu trên chiến trường nhằm kiểm soát hoàn toàn 4 khu vực của Ukraine, đồng thời bác bỏ đề xuất mới từ Kiev về việc kiềm chế các cuộc không kích.

Phần Lan cho phép triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ

Phần Lan cho phép triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ

Sau ba năm kể từ khi Phần Lan từ bỏ chính sách trung lập quân sự và gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), nước này chính thức đã ký ban hành các sửa đổi đối với Luật Năng lượng Hạt nhân, cho phép triển khai vũ khí hạt nhân trên lãnh thổ.

Giữa thảm họa động đất, nhiều người Venezuela kể được Google cảnh báo trước

Giữa thảm họa động đất, nhiều người Venezuela kể được Google cảnh báo trước

Khi mặt đất còn chưa rung chuyển, điện thoại của nhiều người dân Venezuela đã bất ngờ phát đi cảnh báo động đất. Chỉ vài chục giây ngắn ngủi ấy đủ để không ít người tìm chỗ trú an toàn. Trong bối cảnh số người thiệt mạng sau trận động đất kép đã vượt 1.400, câu chuyện về những cảnh báo sớm này đang thu hút sự chú ý.

Mỹ cân nhắc tái bố trí căn cứ vùng Vịnh sau đòn tấn công của Iran

Mỹ cân nhắc tái bố trí căn cứ vùng Vịnh sau đòn tấn công của Iran

Lầu Năm Góc mới đây được cho là đang đánh giá lại mạng lưới căn cứ quân sự của Mỹ tại vùng Vịnh, sau khi các cuộc tấn công của Iran cho thấy nhiều cơ sở được xây dựng từ nhiều thập niên trước không còn đủ khả năng chống chịu trước các loại tên lửa và máy bay không người lái (UAV) chính xác cao.

UAE cấp visa tại cửa khẩu với một bộ phận khách Việt Nam

UAE cấp visa tại cửa khẩu với một bộ phận khách Việt Nam

Chính phủ Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) vừa mở rộng chính sách cấp thị thực (visa) tại cửa khẩu đối với công dân của sáu quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, chính sách chỉ áp dụng cho những người đáp ứng điều kiện về thị thực hoặc giấy phép cư trú tại một số nước phát triển.

LHQ tạm dừng sáng kiến sơ tán tại eo biển Hormuz

LHQ tạm dừng sáng kiến sơ tán tại eo biển Hormuz

Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) thuộc Liên hợp quốc (LHQ) đã quyết định đình chỉ kế hoạch sơ tán tại eo biển Hormuz sau khi một tàu chở hàng bị tấn công tại Vịnh Oman. Động thái này diễn ra trong bối cảnh tình hình an ninh hàng hải tại khu vực vẫn còn nhiều bất ổn.