Quảng Ninh đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước ngầm do việc khai thác than không bảo đảm quy trình, không nhằm mục đích bảo vệ nguồn nước. Nếu không có giải pháp kiên quyết, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước tại vùng than không chỉ còn là nguy cơ nữa.
Theo dự kiến, đến hết 2015, tổng sản lượng khai thác của Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) tại Quảng Ninh sẽ đạt 100 triệu tấn. Theo tính toán của chính ngành than, để sản xuất 1 tấn than cần bóc tách 8-10 m3 đất, thải ra từ 1-3 mét khối nước thải mỏ. Cứ theo cách tính toán này, đủ thấy, TKV đã để lại vô số ngọn núi chất thải rắn, vô số bể chứa chất thải lỏng, đủ để triệt tiêu một loại tài nguyên khác. Đó là nước.
Ngoài TKV, việc khai thác sử dụng nước ngầm trong cộng đồng dân cư tại Quảng Ninh có nhiều bất cập. Phổ biến nhất là khai thác vô tội vạ, xả nước thải vào nguồn nước không có giấy phép, xả nước thải không qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn vào nguồn nước.
Đặc biệt, mấy năm gần đây, nạn khai thác cát, sỏi trái phép đã gây tác động tiêu cực lớn tới nguồn nước mặt lẫn nước ngầm. Ngay tại khu vực Hạ Long, Cẩm Phả – nơi trữ lượng nước ngầm được đánh giá là dồi dào nhất, công suất khai thác cũng đang có dấu hiệu giảm dần. Tổng công suất khai thác nước ngầm tại khu vực này chỉ đạt từ 6.000 – 10.000m3/ngày đêm (ước tính giảm từ 10-20% so với những năm trước).
Đứng trước nguy cơ thiếu nước ngọt, nước sạch phục vụ sản xuất và sinh hoạt, từ năm 2011, UBND tỉnh Quảng Ninh đã quyết định đầu tư 40 tỷ đồng xây dựng công trình và nâng cấp các hồ, đập chứa nước và kênh tưới tại các huyện Bình Liêu, Yên Hưng và Vân Đồn. Tuy nhiên, các công trình này chỉ giải quyết nhu cầu nước sạch cho một bộ phận nhỏ dân cư vùng sâu vùng xa, biển đảo chứ chưa thể đặt vấn đề an ninh tài nguyên nước.
Ông Hoàng Việt Dũng - Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh cho biết, gần đây, các đơn vị thuộc Tập đoàn TKV cũng đã chú trọng vấn đề này. Cụ thể, số tiền mà các DN ký quỹ để khôi phục bảo vệ môi trường trong năm nay lên tới gần 140 tỷ đồng. Việc xử lý môi trường đối với khai thác than chủ yếu là xử lý nguồn nước và bãi thải đất, đá sau khai thác. Trong đó tập trung vào việc xử lý bãi thải theo đúng quy định như phải kè chân, cắt tầng trên bãi thải sau đó phải cho trồng cây ngay để chống sạt lở tại các bãi thải "khủng" tích tụ từ thời Pháp như Nam Đèo Nai, Nam Lộ Phong...
Tuy nhiên, theo nhận định của các nhà chuyên môn thì khoản ký quỹ này tuy nhiều chưa từng có đối với TKV, nhưng so với những hậu quả để lại trong và sau khi khai thác than thì chẳng thấm vào đâu. Nó chỉ dừng lại ở khâu chống sạt lở các bãi thải, giảm thiểu một phần khả năng đe dọa sinh mạng người dân sống gần đó mà thôi. Để có thể giảm thiểu ô nhiễm và chống suy kiệt nguồn nước, giải pháp cấp bách lúc này là cần chấm dứt ngay tình trạng bất hợp lý, mất cân đối giữa giá trị khai thác than và đầu tư tái tạo môi trường