Mất nguồn thu lớn cho xã hội
Bình thường mỗi tháng, các dây chuyền làm hàng TN-TX tại Móng Cái giải quyết không dưới 5.000 container, bình quân 170 container/ngày kéo theo nhiều công trình hạ tầng dịch vụ đã được tăng tốc đầu tư với quy mô lớn như các cảng Ninh Dương, Thọ Xuân, Minh Thăng... Cảng nào cũng phải có cần cẩu, thiết bị nâng hạ, cầu cảng, bến bãi, kho hàng, trị giá hàng trăm tỷ đồng.
Đặc biệt, từ năm 2007 đến nay, tại Móng Cái xuất trên 400 doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ TN-TX, trong đó có trên 40 đơn vị chuyên đầu tư kinh doanh dịch vụ hạ tầng như kho ngoại quan, điểm thông quan ngoài cửa khẩu, bãi xe container, kho hàng đông lạnh, giá trị đầu tư cả ngàn tỷ đồng. Đó là chưa kể nhiều doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng chuyên gia công, tái chế và cũng chỉ hướng đến một đối tượng duy nhất là hàng TN-TX.
Theo UBND TP Móng Cái, thị trường TN-TX còn tạo ra cơ hội việc làm cho ít nhất 5.000 lao động phổ thông; một nửa trong số 2.000 đò sắt gắn máy thuộc sở hữu người Việt tương đương với 1.000 hộ gia đình, tương ứng với 4.000 nhân khẩu có mức thu nhập 4-5 triệu đồng/tháng. Không chỉ có người địa phương hưởng lợi từ các dịch vụ TN-TX, hàng vạn lao động tỉnh khác cũng dựa vào dịch vụ này có cơ hội mưu sinh.
Có thể nói rằng, 70% tổng sản lượng hàng hóa XNK qua địa bàn Móng Cái là do hàng hóa TN-TX đóng góp, đồng thời tạo nên sự sầm uất, nhộn nhịp hoạt động giao thương ở cửa khẩu vùng biên. Ban quản lý kinh tế cửa khẩu Móng Cái còn cho biết tuy chưa có con số thống kê chính xác nhưng có thể ước đoán giá trị kinh tế đem lại cho người dân, cho doanh nghiệp tại địa bàn này không dưới 2.000 tỷ đồng mỗi năm.
Nhưng bức tranh đó đã nhạt dần từ tháng 2/2012, thời điểm cơ quan chức năng tạm dừng hoạt động kinh doanh TN-TX nhằm tránh những hệ lụy phức tạp kéo theo như buôn lậu, gian lận thương mại, ô nhiễm môi trường, hạ tầng giao thông xuống cấp...
Cần một lộ trình thích hợp
Nhìn từ góc quản lý nhà nước, việc tạm dừng và sắp tới là cấm hẳn hình thức TN-TX là cần thiết. Tuy nhiên, lộ trình thế nào để tránh những hệ lụy tức thì lại đang là vấn đề cần tính toán và xem xét kỹ. Ngay sau khi lệnh cấm được triển khai một phần (đối với hàng hóa thuộc diện cấm XNK), đã có phản ứng xảy ra.
Toàn bộ các đơn vị kinh doanh hạ tầng cảng, ngoại quan, vận tải đa phương thức, kho, bến bãi đồng loạt mất hẳn nguồn thu, đồng nghĩa với việc không có tiền trả nợ ngân hàng, thiết bị đóng băng, hàng vạn lao động trong và ngoài Móng Cái mất việc làm. UBND TP Móng Cái cũng là địa chỉ chịu nhiều thiệt hại vì mất đi nguồn thu phí từ các dịch vụ đò sắt, bến bãi, xếp dỡ với số thu hàng trăm tỷ đồng/năm. Nhưng thiệt hại lớn nhất thuộc về các doanh nghiệp trực tiếp kinh doanh hàng TN-TX.
Đơn cử, Công ty TNHH B.M2 có địa chỉ ở Hải Phòng, Công ty TNHH 1TV Vipco Hạ Long, Công ty XNK Hoàn Phát trong quá trình thực hiện lô hàng TN-TX theo chuỗi với khối lượng hàng ngàn container từ trước khi có lệnh tạm dừng, nhưng khi hàng về Việt Nam xếp kín bãi ở Móng Cái, phần khác tồn đọng ở cảng Hải Phòng, Cái Lân, trong đó có nhiều hàng hóa diện đông lạnh, phí tổn lưu kho, lưu bãi, tiền điện tính theo ngày khiến các doanh nghiệp này bao phen choáng váng.
Đáng ngại hơn là việc tạm dừng chưa biết đến bao giờ giải tỏa, phía đối tác Trung Quốc vì chưa nhận được hàng nên chưa thanh toán, các doanh nghiệp bỗng nhiên thành con nợ với giá trị hàng chục triệu USD. Một giám đốc than vãn: "Lỗ cầm chắc đã là may, nếu kéo dài tình trạng này thêm 1 tháng nữa chắc vỡ nợ".
Thực tế trên là không thể phủ nhận. Trước tình hình đó, giữa 5/2012, UBND tỉnh Quảng Ninh đã thành lập Ban chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, trong đó có loại hình TN-TX trên địa bàn. Đến đầu 6/2012, Ban chỉ đạo này đã giải quyết được một phần theo thẩm quyền của địa phương. Cụ thể: đối thoại với tất cả các doanh nghiệp tham gia hoạt động TN-TX cùng kiến nghị tập thể tới Bộ Công Thương đề nghị xem xét điều chỉnh lại quy định tạm dừng kinh doanh TN-TX theo hướng chưa áp dụng vào thời điểm này nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp đủ thời gian chuyển đổi hình thức kinh doanh, giải phóng trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, phương tiện.
Trước mắt đề nghị cho phép thực hiện tiếp các lô hàng đã có hợp đồng trước thời điểm có lệnh cấm (tháng 2/2012). Về phần mình, UBND tỉnh giao cho Ban quản lý các cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh điều chỉnh hạ thấp các mức thu phí dịch vụ TN-TX đã ban hành theo Quyết định 305/2012/QĐ của UBND tỉnh về áp dụng mức thu phí dịch vụ đối với các hoạt động TN-TX, chuyển khẩu, kho ngoại quan nhằm giảm bớt một phần khó khăn.
Chưa biết đề nghị đó có được xem xét hay không, phần hỗ trợ trên của tỉnh dù thế nào cũng chỉ là một phần rất nhỏ, chưa đủ sức tác động cứu sống 400 doanh nghiệp tại Quảng Ninh tham gia hoạt động kinh doanh TN-TX. Cần phải nói lại, việc cho phép, tạm dừng rồi lại cấp phép đối với hình thức TN-TX thường xuyên thay đổi trong suốt nhiều năm qua.
Ngay cả tỉnh Quảng Ninh cũng đã từng ủng hộ việc cấm làm hàng TN-TX vì quá phức tạp. Tuy nhiên, thực tế hiện nay tại khu vực cửa khẩu trên địa bàn tỉnh là một bài toán cần phải giải quyết ngay kèm với đó cần có những cơ chế quản lý giám sát thật nghiêm ngặt nhằm tránh các hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, buôn bán hàng cấm