Đề xuất của Đô đốc Swift được đưa ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung Quốc và nhiều nước châu Á ngày một gia tăng vì tham vọng bành trướng của Bắc Kinh tại các vùng biển tranh chấp, đặc biệt là tại Biển Đông, nơi họ đang bồi lấp, xây dựng bất hợp pháp 7 đảo nhân tạo, 3 đường băng quân sự.
Trong hai bài phát biểu gần đây, Đô đốc Swift đặt câu hỏi về nhu cầu một ranh giới hành chính chạy dọc theo Đường đổi ngày quốc tế (IDL) nhằm phân định hoạt động của Hạm đội 3 và Hạm đội 7 ở Đông Thái Bình Dương. Một dấu hiệu mới phát sinh cho thấy đang có sự điều chỉnh về mặt chiến thuật của quân đội Mỹ, đó là việc các quan chức Hải quân nước này từng tuyên bố nên để cho chuẩn Đô đốc Nora Tyson, chỉ huy Hạm đội 3, đại diện Hải quân Mỹ trong cuộc tập trận thường niên Japan Fleet Review với Hải quân Nhật, diễn ra vào ngày 18/10 tới.
Trong chuyến thăm trụ sở Hạm đội 7 tại Yokosuka, ông Swift nói: “Tôi sẽ không ngạc nhiên khi chứng kiến Phó Đô đốc Nora Tyson mở rộng phạm vi hoạt động của Hạm đội 3 nằm trong ý tưởng về tiến trình phát triển này”.
Theo vị Tư lệnh này, bất kỳ sự thay đổi nào đều không mang ý nghĩa sẽ di chuyển địa điểm đồn trú, nhưng sẽ cho phép 2 hạm đội làm việc cùng nhau tại “những khu vực nhiều bất ổn nhất”.
Theo một quan chức thuộc Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, ý tưởng loại bỏ ranh giới hành chính giữa Hạm đội 3 với Hạm đội 7 đã có, nhưng mới ở trong giai đoạn khái niệm. Kế hoạch này xoay quanh tư tưởng “tác chiến tuyến đầu” (operating forward), một thuật ngữ hải quân với ý nghĩa tiến hành tuần tra và thực hiện các nhiệm vụ phức tạp ở địa bàn xa, của Hạm đội 3. Nó sẽ chính thức hóa và mở rộng vai trò của Hạm đội 3 ở Tây Thái Bình Dương trên góc độ chỉ huy và kiểm soát.
Hạm đội 3 được thành lập ngày 15/3/1943 và nằm dưới sự điều hành của Đô đốc William F. “Bull” Halsey, với tổng hành dinh khi đó đóng tại Trân Châu Cảng, lãnh thổ Hawaii vào ngày 15/6/1944.
Tới tháng 9/2003, Tư lệnh Đệ tam Hạm đội chuyển cờ từ soái hạm USS Coronado (AGF-11) lên đại bản doanh đặt ở căn cứ hải quân Point Loma, San Diego, bang California. Đây là một trong năm Hạm đội của Hải quân Mỹ, quản lý dải vùng biển phía Đông và Bắc Thái Bình Dương có diện tích khoảng 5.000km² (bao gồm biển Bering, Alaska, quần đảo Aleutian và một phần Bắc Cực), và chịu trách nhiệm bảo đảm sự thông suốt của tuyến đường giao thông dầu mỏ và thương mại trên biển ở toàn bộ vành đai Thái Bình Dương. Hạm đội 3 sở hữu 21 tàu chiến chủ lực, 5 tàu sân bay động cơ hạt nhân lớp Nimitz và hơn 8.000 thành viên hải quân của trụ sở trên bờ.
![]() |
| Một góc căn cứ hải quân chiến lược Yokosuka. |
Trong Thế chiến II, các chiến hạm của Hạm đội 3 từng được sử dụng để thiết lập Đệ ngũ Hạm đội với tên gọi “Big Blue Fleet” nằm dưới quyền của Đô đốc Raymond Spruance. Ngày 1/2/1973, sau một cuộc tái tổ chức Hạm đội Thái Bình Dương, Hạm đội 3 được “tái sử dụng” đảm nhận các bổn phận của cựu Đệ nhất Hạm đội và Lực lượng Chiến tranh Chống Tàu ngầm Thái Bình Dương đặt căn cứ ở đảo Ford, Hawaii. Đệ tam Hạm đội đào tạo các lực lượng hải quân triển khai hải ngoại và đánh giá chất lượng kỹ thuật tiên tiến sẽ được dùng cho hạm đội.
Ngoài ra, Đệ tam Hạm đội có thể triển khai trong trường hợp có một cuộc khủng hoảng lớn xảy ra. Nhiệm vụ hàng đầu của Đệ tam Hạm đội là ngăn chặn xung đột, nhưng trong trường hợp chiến tranh toàn diện, Hạm đội sẽ tiến hành các cuộc hành quân chiến đấu lâu dài và tức thời trên biển để thi hành chiến lược của Hạm đội Thái Bình Dương trên chiến trường.
Trong khi đó, Hạm đội 7, hay Đệ thất Hạm đội được thành lập vào ngày 15/3/1943 tại Brisbane, Australia và hiện là hạm đội lớn nhất trong các hạm đội triển khai tiền phương của Mỹ. Hạm đội 7 sở hữu từ 60-70 chiến hạm, 350 máy bay các loại, một tàu sân bay và biên chế 60.000 quân, bao gồm các đơn vị thủy quân lục chiến, đặc trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương và nằm dưới quyền chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương.
Theo cơ cấu, Hạm đội 7 được chia thành các lực lượng đặc nhiệm (LLĐN - Task Force) chuyên môn: LLĐN 70 là Lực lượng chiến đấu chính của Hạm đội, có hai thành phần riêng biệt: Lực lượng tham chiến nổi và Lực lượng công kích hàng không mẫu hạm; LLĐN 71 bao gồm tất cả các đơn vị Chiến tranh đặc biệt Hải quân (NSW) và các Đơn vị Lưu động Tháo gỡ Chất nổ (EODMU); LLĐN 72 là Lực lượng Tuần tra và Trinh thám; LLĐN 73 là Lực lượng Tiếp vận Hậu cần; LLĐN 74 là Lực lượng Tàu ngầm; LLĐN 75 là Lực lượng Chiến đấu nổi; LLĐN 76 là Lực lượng Tấn công đổ bộ; LLĐN 77 là Lực lượng Tác chiến thủy lôi; LLĐN 78 là Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đóng tại Hàn Quốc; LLĐN 79 là đơn vị Thủy quân lục chiến viễn chinh hay Lực lượng đổ bộ của Hạm đội.
Hạm đội 7 hiện duy trì lực lượng chính tại hai căn cứ hải quân Yokosuka và Sasebo ở Nhật Bản, và một trên đảo Guam. Căn cứ hải quân Yokosuka, tỉnh Kanagawa, cách thủ đô Tokyo 65km về phía Nam và cách thành phố Yokohama, tỉnh Kanto 30km về phía Nam. Là căn cứ chiến lược lớn nhất của Mỹ ở vùng biển Tây Thái Bình Dương nên Yokosuka được ưu tiên, biên chế rất nhiều đơn vị tàu chiến đấu.
Đây là “cảng nhà” của tàu chỉ huy USS Blue Ridge – soái hạm hạm đội, nhóm tàu sân bay chiến đấu số 5 (tàu sân bay USS Geogre Washington (CVN-73), 2 tuần dương hạm trang bị tên lửa lớp Ticonderoga) và liên đội tàu khu trục số 15 (8 tàu khu trục tên lửa lớp Arleigh Burke).
Đi kèm với USS George Washington là Không đoàn số 5 biên chế 8 phi đội trang bị các máy bay tiêm kích đa năng F/A-18E, máy bay chỉ huy và cảnh báo sớm đường không E-2C, máy bay tấn công điện tử EA-18G, máy bay vận tải C-2A và trực thăng săn ngầm UH-60.
Trong khi đó, căn cứ Sasebo nằm trên đảo Kyushu chịu trách nhiệm cung cấp hậu cần, tiếp liệu cho các đơn vị tàu chiến Mỹ. Sasebo là “cảng nhà” của Liên đội tàu đổ bộ số 11, gồm: tàu vận tải đổ bộ USS Bonhomme Richard lớp Wasp, USS Denver lớp Austin, USS Tortuga và USS Germantown lớp Whidbey Island.
Và Liên đội tàu quét mìn số 7 gồm: 4 tàu quét mìn lớp Avenger và một tàu kéo cứu hộ. Còn căn cứ hải quân Guam nằm trên quần đảo Guam, “cảng nhà” của Liên đội tàu ngầm số 15 và lực lượng tác chiến đặc biệt. Liên đội tàu ngầm số 15 trang bị 3 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Los Angeles và một tàu tiếp vận tàu ngầm USS Fank Cable.
