GS.BS Nguyễn Trinh Cơ và ca mổ cho cậu bé liên lạc năm xưa

Năm 1962, tôi được Trường Đại học Y khoa Hà Nội mời sang dự Đại hội Đoàn của trường. Một người bạn thân của tôi đã bắc lên một chiếc cầu kiều cho cậu bé liên lạc năm xưa và bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ được gặp lại nhau sau 12 năm trời xa cách… Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ và tôi cùng chạy lại ôm chầm lấy nhau, nước mắt trào ra không sao kìm lại được.

"Đây không phải là một thiên "tiểu thuyết". Chuyện em Ngọc kể ra chỉ cốt ghi lại một kỷ niệm trong đời sống kháng chiến của một người thầy thuốc.

Lúc ấy tôi nhìn kỹ vào cáng: một thân hình nhỏ bé thu gọn vào lòng cáng, chiếc chăn màu xám phủ kín người, để lộ ra khuôn mặt đầy đặn, sáng sủa của một cậu bé khoảng 11, 12 tuổi…

Tôi nói lảng, bằng một giọng cố bình tĩnh để giấu một nỗi buồn: "Khuỷu tay em đã nát, không cách gì cứu chữa được".

… Em Ngọc giãy giụa mạnh, những câu nói dồn dập: "Thực dân nó bắn gãy tay tôi rồi! Hu hu… Nước tôi còn đánh nhau với nó kia mà! Để tay cho tôi, để tôi đánh nó!...".

Trong một phút, tất cả nhân viên trong phòng mổ đều ngừng tay. Người nào cũng cố nhìn ra chỗ khác. Một vài chị cứu thương quay mặt đi, lấy vạt áo giấu giếm thấm dòng nước mắt.

Các chị cứu thương cho biết, nhiều lúc vắng người, em hay làm nũng mẹ… Làm nũng mẹ có lẽ là bản tính tự nhiên của tất cả các trẻ em.

Người tò mò đọc những dòng trên đây có lẽ cố tìm cho biết em Ngọc là ai, ở bộ đội nào…

Cái tên của em bé có quan hệ gì! Em là Ngọc, cũng có thể là Bình, là Hải, là Chương, là những em nhi đồng đang ghé đôi vai nhỏ bé chia một phần công việc kháng chiến cùng các anh nhớn tuổi.

Em Ngọc ở đâu, ở bộ đội nào? Chúng ta cần gì phải biết rõ! Một bộ đội nào chiến đấu ở trên đất Việt Nam này mà không có em Ngọc…".

Đoạn trích trên rút từ truyện "Em Ngọc" do GS.BS Nguyễn Trinh Cơ viết trong "Tuyển tập Văn thơ Cách mạng và kháng chiến", về sau được đưa vào "Tuyển tập Văn lớp 5" cho nhiều thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam học tập trong giai đoạn 1955-1975. Tôi đã nhiều lần đọc lại "Em Ngọc" và lần nào cũng bồi hồi cảm xúc. Dẫu biết rằng "Một bộ đội nào chiến đấu ở trên đất Việt Nam này mà không có em Ngọc…", tôi vẫn tò mò muốn đi tìm "Em Ngọc" là ai?

Thật bất ngờ, "Em Ngọc" không ở đâu xa lạ, đó chính là GS Trịnh Ngọc Trình - nguyên Bí thư Đoàn trường ĐHSP Hà Nội - nơi tôi đã từng học tập. Hiện nay ông vẫn tiếp tục làm Giám đốc Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục miền núi (HEDO).

GS.BS Nguyễn Trinh Cơ tiếp các bạn Pháp trong chuyến công tác sang Paris, năm 1956.
GS.BS Nguyễn Trinh Cơ tiếp các bạn Pháp trong chuyến công tác sang Paris, năm 1956.

Trong tình cảm của người thầy giáo cũ và một học trò cũ của Trường ĐHSP Hà Nội, ông kể cho tôi nghe lại kỷ niệm về "Em Ngọc", về GS.BS Nguyễn Trinh Cơ.

Năm 11 tuổi, GS Trịnh Ngọc Trình làm liên lạc Đội viên Võ trang Tiểu đoàn 62, 87, Trung đoàn 34 chiến đấu ở Hà Nam Ninh - được Bác Hồ phong tặng danh hiệu "Trung đoàn Tất Thắng".

Một hôm, tôi được nghe anh em kể chuyện với nhau: Bệnh viện dã chiến trung đoàn vừa có một ông bác sĩ như Hoa Đà: Mổ bụng gắp ra một viên đạn còn nguyên, bóng như kỳ xà phòng rồi khâu bụng lại mà dăm bữa đã ra viện về đơn vị chiến đấu thì lạ quá.

Họ kháo nhau rằng ông bác sĩ ấy tên là Nguyễn Trinh Cơ, người to cao, trắng như con gái, thư sinh, trí thức lắm. Tin vui chiến thắng dồn dập, tin bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ phụ trách bệnh viện dã chiến giỏi như Hoa Đà làm nức lòng binh sĩ Trung đoàn 34.

Tôi bị thương trong chiến dịch chặn đánh quân địch ở thị xã Ninh Bình. Vào lúc nửa đêm, tôi đang trên đường mang mật lệnh chiến đấu đến các đơn vị bộ đội thì bị địch phục kích đuổi theo bắn tiểu liên và sau đó cả moóc - chiê nổ dữ dội, địch muốn bắt sống để moi tin tức. Tôi cho tờ mật lệnh vào mồm, rồi ném một quả lựu đạn chặn địch.

Tôi vọt qua đê luồn theo các ruộng lúa, ruộng mía, tay phải nắm lấy tay trái đã bị đạn địch bắn nát, lần về đơn vị. Sau khi truyền đạt xong mật lệnh, tôi ngất đi.

Tôi được chuyển về bệnh viện dã chiến, bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ đến bên tôi, động viên: "Tay em nát hết rồi, nhiễm trùng rất nặng, phải cưa ngay kẻo nguy hiểm đến tính mạng".

Tôi trả lời: "Thưa bác sĩ, em không sợ chết. Nhưng nếu cưa tay em thì ra viện phải cho em về đơn vị tiếp tục chiến đấu, cùng đồng đội đánh đuổi hết quân xâm lược… Còn bọn thực dân, em chưa chết được đâu bác sĩ ạ".

Ai nói cho hết những nỗi lo lắng, băn khoăn trong lòng người thầy thuốc lúc quyết định đường đi cho lưỡi dao, mũi kéo. Trong cái khoảnh khắc cân nhắc, suy tính ấy, người thầy thuốc thấy đè trĩu trên vai cái trách nhiệm về đời hoạt động tương lai của người bệnh trong tay mình cứu chữa.

Sau ca mổ của bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ, tôi dưỡng thương một thời gian rồi lại tiếp tục ra chiến đấu ngoài mặt trận. Tôi bặt tin bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ từ đó.

Cuộc đời người chiến sĩ đang say mê với những cuộc hành quân chiến đấu thì tôi được đoàn thể cử sang Trung Quốc học tập. 

Thế là từ người lính cầm súng, tôi trở thành người thầy giáo cầm bút chiến đấu xây dựng đất nước. Sau nhiều năm dài dạy học ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, tôi được về ĐHSP Hà Nội học tập rồi trở thành người giảng viên đại học và Bí thư Đoàn trường ĐHSP Hà Nội.

Năm 1962, tôi được Trường Đại học Y khoa Hà Nội mời sang dự Đại hội Đoàn của trường. Anh Đỗ Nguyên Phương, người bạn thân của tôi đã bắc lên một chiếc cầu kiều cho tôi và bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ được gặp lại nhau sau 12 năm trời xa cách… Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ và tôi cùng chạy lại ôm chầm lấy nhau, nước mắt trào ra không sao kìm lại được.

Tôi xúc động phát biểu: "Thưa các đồng chí và các bạn, "Em Ngọc" ngày xưa nay đã trở thành một người chiến sĩ, một cán bộ Đoàn, một đảng viên Cộng sản, một trí thức mới, ngoài phần phấn đấu của mình tất nhiên phải có sự giáo dục, rèn luyện, đào tạo của Đảng, Đoàn, Quân đội và Nhà trường. Nhưng nếu tôi không được bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ và các thầy thuốc cứu sống khi bị thương ở mặt trận thì bây giờ tất cả những danh hiệu kia đều không có được".

Vì thế có thể nói: "Đối với mỗi người thương binh như chúng tôi, tất cả những ý nghĩ hay, những lời nói đẹp, những việc làm tốt trong toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của mình đều có Đảng, Bác Hồ, Quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tất nhiên không thể thiếu vắng hình ảnh của người thầy giáo và người thầy thuốc".

Năm 1985, tin GS.BS Nguyễn Trinh Cơ qua đời làm tôi bàng hoàng. Tôi bỗng nhớ đến hình ảnh ông đội nón lá, mặc áo tơi, chân lội bùn đến bệnh viện dã chiến khám bệnh cho anh em thương binh chúng tôi đang ngóng chờ và hy vọng. Tôi tự nghĩ: Ai mang lại nhiều niềm vui, nhiều hy vọng cho người khác thì họ sẽ được người đời nhớ mãi. Cái gì tạo nên niềm vui và hy vọng cho cuộc sống? Có lẽ đó là ngọn lửa của Tình người và Lao động.

Anh Đỗ Nguyên Phương nắm lấy tay tôi rồi rỉ tai: "Trình nhìn lại xem, đến ngã tư này (ngã tư Bệnh viện 108) mà tận cổng Trường Đại học Y khoa dòng người vẫn như dòng sông ùn ùn chảy theo không ngừng. Cụ đang được gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, học trò, bệnh nhân đưa về Văn Điển sống với nhân dân. Người hiền tài như cụ nhập hộ khẩu ở thế giới bên kia nhanh lắm! Chết như cụ sướng thật: Bên này đưa, bên kia đón. Một số thằng sống bây giờ đầy lo âu, bất tài, vô hạnh chết mấy ai đưa, bên kia không ai đón, sống bơ vơ và chờ xét nhập hộ khẩu không phải là dễ! Đúng là có cái chết lại gieo mầm sự sống. Thầy Cơ là người như thế đấy".

Tôi gật đầu hưởng ứng: "Ai cho Đời, cho Người tất cả, khi ra đi Người và Đời lại đem đến trả tất cả. Người đó bỗng trở nên giàu có, sang trọng". Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ là một người như thế.

GS.BS Nguyễn Trinh Cơ sinh ngày 15/3/1915 trong một gia đình viên chức (tại Thanh Hóa), mất ngày 24/3/1985 thọ 70 tuổi. Năm 1943 ông đã tốt nghiệp khóa thứ 4 bác sĩ nội trú các bệnh viện Hà Nội cùng với các Giáo sư Nguyễn Thúc Tùng, Phạm Biểu Tâm, Đặng Văn Chung, Hoàng Đình Cầu...

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946), ông là một trong những người đầu tiên xây dựng ngành Quân y cách mạng Việt Nam . Là Đội trưởng Đội điều trị tiền phương, ông đã trực tiếp cứu chữa nhiều thương binh trong các chiến dịch Phủ Thông, Nà Phặc, Cao Bắc Lạng, Hoàng Hoa Thám… Là Phó Hiệu trưởng rồi Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ - tiền thân của Học viện Quân y ngày nay - ông đã có công đào tạo cho quân đội khóa quân y sĩ đầu tiên kịp thời phục vụ cho các chiến sĩ và quân nhân ở các mặt trận.

Trong hoàn cảnh khó khăn của những ngày đầu kháng chiến, ông đã kịp thời biên soạn cuốn sách "Những điều cần biết về phẫu thuật trong thời kì chiến tranh". Cuốn sách đầu tiên bằng tiếng Việt này đã trở thành cẩm nang để trong ba lô của các phẫu thuật viên đi khắp các chiến dịch (…)

Hòa bình lập lại (1954-1955), ông về công tác tại Trường Đại học Y Dược Hà Nội. Ở đây, ông đảm nhiệm các chức vụ: chủ nhiệm bộ môn Ngoại, Phó Hiệu trưởng, Hiệu trưởng, Bí thư Đảng ủy trường, Chủ tịch Hội đồng Ngoại khoa Việt Nam, ông là linh hồn và là ngọn cờ của trường với công đầu trong việc duy trì và xây dựng phát triển nhà trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở hai nhiệm vụ: Khoa học Giáo dục và Khoa học Y học (…).

Tháng 8/1945, khi cách mạng bùng nổ, đang là bác sĩ phẫu thuật ở Bệnh viện Nam Định, ông đã được cử làm Giám đốc Bệnh viện Nam Định, Ủy viên UBND tỉnh Nam Định. Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Nam Định.

Ông là Viện trưởng Viện Phẫu thuật Trung ương, Hiệu trưởng Trường Quân y sĩ Việt Bắc (tiền thân của Học viện Quân y ngày nay), Tổng Biên tập Tạp chí Y học Việt Nam xuất bản bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài; Phó Chủ tịch Hội Y học (nay là Tổng hội Y học Việt Nam); Chủ tịch Hội Ngoại khoa Việt Nam.

Do những cống hiến của mình, GS.BS Nguyễn Trinh Cơ đã được Đảng, Nhà nước và Chính phủ tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng ba, Huân chương Chiến thắng hạng nhất, Huân chương Chiến công hạng nhì, Huân chương Lao động hạng nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2000…

Hà Nội, ngày 25/2/2011

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.