Giữa Sài Gòn nghe thơ chúc Tết của Bác Hồ

Đại tá, Tư lệnh Biệt động Sài Gòn – Anh hùng Nguyễn Đức Hùng (tức Tư Chu), đã đi xa chúng ta gần một năm; nhưng khi còn sống nhiều lần anh em Hội đồng huơng xứ Nghệ chúng tôi đến thăm, Đại tá cứ băn khoăn: Những ngày giáp Tết hằng năm thế này, là anh em cứ hội tụ về nhà tôi, cứ hỏi thăm, là nay còn biết thêm những ai hy sinh, nằm tại đâu, mà Ban Liên lạc Biệt động mới biết được nơi các anh nằm xuống… để thắp nén nhang Tết tri ân lòng thành với các anh.

Thật khó mà hình dung, một lực lượng đặc biệt tinh nhuệ như thế, chiến đấu ngoan cường, sáng tạo, hiệu quả cao như thế, mà trong hơn 30 năm khói lửa chiến tranh, chưa một ai là Biệt động thành lại “biết” đầu hàng giặc, chưa một ai phản bội đồng đội. Chính do hoàn cảnh khắc nghiệt như thế, chiến tranh ác liệt như thế, mà các anh phải hoạt động đơn tuyến, tuy rằng hiệu quả chiến đấu rất cao – song khi các anh nằm xuống vì Tổ quốc, đồng đội lại không thể biết chính xác chỗ các anh nằm, để đưa thi hài các anh về với anh em, hay quê hương.

Bác Tư Chu, năm trước khi mất, cho biết: Bộ đội Biệt động Sài Gòn là một lực lượng đặc nhiệm, tham gia chiến đấu và giữ gìn lực lượng với nhiều nhiệm vụ đặc biệt, ngay từ trong nhân dân Sài Gòn. Lực lượng Biệt động Sài Gòn có nhiều đội, nhiều nhóm hoạt động đơn tuyến, hay đa tuyến, nhưng đều dưới sự chỉ huy thống nhất của Bộ Tư lệnh Biệt động Sài Gòn và dưới sự lãnh đạo nhất quán của Khu ủy Sài Gòn – Gia Định. 

Biệt động Sài Gòn được thành lập từ rất sớm, ngay khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bắt đầu trên miền Nam, đến cuộc kháng chiến chống Mỹ thì lực lượng Biệt động đã trưởng thành về số lượng và chất lượng, đã có nhiều cách đánh rất dũng cảm, sáng tạo. Như năm 1964, sự kiện hai chiến sĩ biệt động làm rung chuyển thế giới: Đó là người thợ điện Nguyễn Văn Trỗi và anh thợ máy Trần Văn Đang, cả hai đều là chiến sỹ của Biệt động Sài Gòn những năm ác liệt nhất. Anh Nguyễn Văn Trỗi được phân công đặt mìn trên cầu Công Lý để tiêu diệt Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara sang thăm Sài Gòn. Còn anh Trần Văn Đang đánh cư xá Mỹ, gần Bộ Tổng tham mưu ngụy quyền Sài Gòn. Cả hai đã tạo nên những cách đánh mà người Mỹ lúc đó đã không thể ngờ - và cả hai đều hy sinh, để lại những tiếc thương vô hạn.

Đến năm 1965, lực lượng Biệt động Sài Gòn tập trung các đội của Quân khu Sài Gòn - Gia Định chính thức được thành lập gọi là F100, gồm 13 đội với hàng trăm chiến sỹ quả cảm.

Trinh sát đội chống gián điệp biệt kích của lực lượng An ninh khống chế toán gián điệp biệt kích liên lạc về trung tâm chỉ huy của chúng tại Sài Gòn, góp phần thắng lợi vào chiến dịch Mậu Thân 1968.
Trinh sát đội chống gián điệp biệt kích của lực lượng An ninh khống chế toán gián điệp biệt kích liên lạc về trung tâm chỉ huy của chúng tại Sài Gòn, góp phần thắng lợi vào chiến dịch Mậu Thân 1968.

Có thể nói, Biệt động Sài Gòn có ba cách đánh tiêu biểu là nổ chậm, cường tập và pháo kích. Cả ba cách đánh đó có một phương châm luôn bắt buộc là đều luôn giữ thế bí mật đến tuyệt đối, tạo bất ngờ cao cho đối phương. Và đây là nguyên nhân đã đạt được trong những thắng lợi vinh quang, mà kẻ địch không hề ngờ tới – kể cả không hiểu được như đến nay, người Mỹ vẫn còn băn khoăn về cách đánh này – đó là một nghệ thuật chiến tranh nhân dân, mà chỉ có ở bộ đội Việt Nam, cách đánh của Việt Nam – hay là văn hóa của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, mà người nước ngoài khó hiểu nổi như Đại tá Anh hùng, Trưởng lưới tình báo H.63 Nguyễn Văn Tàu – Tư Cang nói và khẳng định với chúng tôi như thế.

45 năm trước, cũng những ngày xuân này, trong suốt cả dịp đầu năm hoạt động trên chiến trường nội hay ngoại ô Sài Gòn, Biệt động Sài Gòn bao giờ cũng sử dụng những cách đánh táo bạo nhất, thông minh nhất, bất ngờ nhất, hiệu quả nhất... để giành chiến thắng nhanh gọn. Đó là các trận đánh vào Bộ Tổng tham mưu ngụy Sài Gòn, Tòa Đại sứ Mỹ, Bộ Tổng tư lệnh Hải quân ngụy Sài Gòn, cùng nhiều vị trí mục tiêu quan trọng ngay tại trung tâm đô thành Sài Gòn năm 1968.

Nhiều trận đánh khác, các anh chỉ một – hai người thôi, song đã làm cho cả đơn vị của Mỹ - ngụy không lúc nào phát hiện ra và bị tấn công chớp nhoáng, rút ra cũng chớp nhoáng. Yếu tố bất ngờ, chắc thắng, sáng tạo luôn luôn là tiêu chí hàng đầu cho các chiến sỹ Biệt động Sài Gòn trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, mà chị Đoàn Thị Hồng Nga – nguyên Tiểu đoàn truởng Tiểu đoàn Biệt động Lê Thị Riêng – nay chị nghỉ hưu tại quận Bình Thạnh – nói. Những ngày đó đơn vị của chị dù ở nội hay ngoại thành, nhưng đã đánh là phải điều nghiên, suy tính thật kỹ mới đánh, do vậy đã đánh là thắng vì thế.

Cũng trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, có một chuyện các chị Tiểu đoàn Biệt động Lê Thị Riêng giờ mới kể, là nhân dân đã giúp đỡ hết mình, để tiểu đoàn diễn thuyết đọc thư chúc Xuân của Bác ngay cổng phía Tây – chợ Bến Thành. Đó là tranh thủ tình hình ngay đêm giao thừa Xuân Mậu Thân, tiểu đoàn Biệt động do Tiểu đoàn trưởng Đoàn Thị Hồng Nga đã nhờ bà con chợ Bến Thành bắc cho mấy bàn ghế cao, đứng lên diễn thuyết công khai tại chợ Bến Thành. Sau đó chị đã thay mặt những người lính Biệt động đọc dõng dạc bài thơ chúc Tết của Bác Hồ cho bà con tại chợ Bến Thành ngay trong đêm 30 Tết.

Đại tá, Trưởng lưới tình báo H.63 Nguyễn Văn Tàu – Tư Cang.
Đại tá, Trưởng lưới tình báo H.63 Nguyễn Văn Tàu – Tư Cang.

Vào thời điểm trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968 của quân và dân ta trên khắp các đô thị miền Nam, quân số Mỹ - ngụy và chư hầu phát triển cao chưa từng có, gần lên đến đỉnh điểm trong toàn bộ cuộc chiến tranh. Trong tổng số gần 50 vạn quân Mỹ, hơn 70 vạn quân ngụy và hàng vạn quân chư hầu có mặt ở miền Nam, Mỹ - ngụy ưu tiên bố trí lực lượng bảo vệ Sài Gòn ở tất cả các tầng, lớp trong và ngoài thành phố với 4 sư đoàn Mỹ, 4 sư đoàn ngụy, 8 tiểu đoàn dù và thủy quân lục chiến, 1 tiểu đoàn an ninh thủ đô, 20 vạn biệt động quân, bảo an, dân vệ, cảnh sát dã chiến, hàng ngàn khóa sinh quân sự, hàng ngàn thanh niên chiến đấu và nhiều đơn vị cơ giới, binh chủng, quân chủng.

Tại vòng ngoài, có các lữ đoàn 1 và 2 thuộc Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ (tại căn cứ Đồng Dù), Sư đoàn bộ binh 25 ngụy và nhiều tiểu đoàn biệt động quân, đại đội bảo an ở phía Tây Bắc; Sư đoàn bộ binh số 1 Mỹ (tại căn cứ Lai Khê), Trung đoàn Thiết giáp 11 Mỹ, Sư đoàn bộ binh 5 ngụy, hàng chục tiểu đoàn biệt động quân, đại đội bảo an, lực lượng dân vệ ở phía Bắc; các đơn vị đánh thuê Nam Triều Tiên, Úc, quân dù Mỹ, Sư đoàn 18 ngụy ở phía Đông và Đông Bắc; các đơn vị thuộc lực lượng tổng trù bị bao gồm hải quân, dù, thủy quân lục chiến và 1 lữ đoàn thuộc Sư đoàn bộ binh số 9 Mỹ ở phía Nam.

Kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định được xác định trong lúc đó, các đơn vị chủ lực của Miền tiến công các căn cứ và tiêu diệt địch ở bên ngoài, sẵn sàng làm nhiệm vụ thọc sâu; quần chúng nhân dân nổi dậy bức rút đồn bót, giành chính quyền, thành lập ban tự quản cách mạng.

Vượt qua sự bảo vệ “đến từng mắt lưới” của cả hệ thống kẻ thù, đêm mồng 1 rạng mồng 2 Tết Mậu Thân, lực lượng Biệt động Sài Gòn đã rời khỏi vị trí ém quân trong nội đô, di chuyển. Và cuộc tập kích vào các mục tiêu được phân công được triển khai đồng loạt vào lúc 2h sáng mồng 2 Tết sau 8 quả đạn cối 82mm nã vào sân bay Tân Sơn Nhất.

Trong giây phút bất ngờ ban đầu, nhiều đơn vị biệt động đã bắn hạ lực lượng bảo vệ, đột nhập được vào bên trong mục tiêu. Cuộc chiến đấu diễn ra hết sức quyết liệt. Tuy nhiên, lực lượng thanh niên, sinh viên đã không có mặt hỗ trợ kịp thời, các tiểu đoàn mũi nhọn phải dừng lại tác chiến ở vòng ngoài. Các đơn vị biệt động đã chiến đấu như những chiến sĩ cảm tử cho đến khi hy sinh hoặc bị địch bắt, chỉ một số ít thoát trở về căn cứ.

Các đội biệt động số 3, 4, 5, 6, 7, 9, 11 tiến công dinh Độc lập, toà Đại sứ quán Mỹ, căn cứ Bộ Tổng tham mưu ngụy, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài phát thanh Sài Gòn, căn cứ Bộ Tư lệnh hải quân ngụy. Một số đơn vị khác tập kích trại Cổ Loa, căn cứ Phù Đổng, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn Gia Định, và các căn cứ địch ở Bình Hòa, Hàng Xanh, Rạch Sơn, Bình Qưới Tây, quận 6, quận 7, quận 8, đường Sư Vạn Hạnh, Bệnh viện Nhi Đồng, Vườn Lài, Chợ Thiếc, cư xá Hỏa xa.

Đến ngày 10/2/1968, các đơn vị vũ trang chuyển dần ra bên ngoài. Trong nội thành, lực lượng của các ngành vẫn tiếp tục đánh địch ở Phú Lâm, Phú Thọ, Minh Phụng, Minh Mạng, Vườn Lài, Tân Nhật, Qưới Xuân, Nam thị trấn Hóc Môn. Từ bên ngoài, ta tiếp tục pháo kích vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh MACV, Tổng nha cảnh sát, đài ra đa Phú Lâm…

Gắn bó với nhân dân, được nhân dân bảo vệ, che chở trong từng nhiệm vụ, vì nhân dân mà chiến đấu, hoạt động đơn tuyến hay đa tuyến thì từng chiến sỹ trong Biệt động Sài Gòn luôn lấy tiêu chí là phải được nhân dân che chở, bảo vệ, kể cả khi tình thế hiểm nguy kề cận với cái chết. Điều mà những ai đã chiến đấu trong lực lượng Biệt động phải nhớ, là: gắn bó với dân - dân tin - dân yêu - dân che chở - mãi mãi là nguyên tắc hoạt động, là niềm tin từng chiến sỹ biệt động, cũng như giữa người dân và các chiến sỹ biệt động chung sống, đã làm cho kẻ thù phải nhiều phen thất kinh.

Bao nhiêu năm rồi, Ban Liên lạc lực lượng Biệt động thành mà chính Đại tá, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Biệt động Sài Gòn - Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu trước khi mất) và các cựu chiến binh của biệt động vẫn cố sức tìm kiếm phần mộ của những liệt sỹ chưa có hồi âm, để kiến nghị các cấp Đảng, chính quyền thực hiện chế độ cho gia đình họ. Năm 2010, Đảng, Nhà nước ta đã tuyên dương công trạng Anh hùng lực lượng VTND cho 8 đơn vị, cán bộ, chiến sỹ của Biệt động Sài Gòn đã như lời thầm biết ơn, nhắc nhở người còn sống, đã luôn nhớ về những người dũng cảm, trung kiên đã hy sinh thân mình, cả cuộc đời mình cho Tổ quốc.

Cho đến nay, dù các chiến sỹ lực lượng Biệt động thành khi trở về địa phương hay các cơ quan, đơn vị... thì ý thức gắn bó với dân, dân tin, dân yêu vẫn là điều hàng đầu mà các anh, chị luôn gắn bó, giữ mãi đến nay. Chỉ có một điều như chị Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Biệt động Lê Thị Riêng, Đoàn Thị Hồng Nga, dù nay trên 65 tuổi, nghỉ hưu rồi, mà vẫn day dứt hằng ngày chưa yên là cho đến nay - 40 năm rồi, nhiều anh, chị em, do hoạt động đơn tuyến tại nội đô, nên khi hy sinh, đơn vị cũng không biết chỗ nằm xuống, gia đình đến nay vẫn chưa biết rõ thân xác các anh nằm nơi chốn nào?

Thật là đau buồn cho cả những ai đã tham gia Biệt động thành, nay còn sống về đây giữa lòng thành phố, khi Tết về lại nhớ những anh, chị em đã cùng chiến đấu với mình, cùng vào – ra thành phố nghi binh, kể cả họ cản bước địch, cho mình làm nhiệm vụ… rồi họ bị kẻ thù sát hại, nằm lại trong lòng thành phố, mà giờ không biết anh linh các anh, chị nằm đâu? - chị Hồng Nga tâm sự khi tôi đến thăm và thắp nén nhang tưởng nhớ các linh hồn đồng đội của chị - trước Tết này.

Đại tá Nguyễn Đức Hùng (Tư Chu), SN 1928, trong một gia đình nghèo quê ở xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Gia đình có 9 anh em, ông là thứ tư. Năm 8 tuổi, ông rời gia đình theo chú vào Nha Trang ăn học, đến năm 14 tuổi, ông vào Sài Gòn - Gia Định làm đủ các việc để mưu sinh và theo cách mạng, trở thành Chỉ huy trưởng lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định trong những năm chống Mỹ cứu nước.

Ông mất năm 2012. Sáng 17/5/2012, tại Nhà tang lễ TP Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến viếng Đại tá Nguyễn Đức Hùng. Chủ tịch nước ghi vào sổ tang: "Tổ quốc mãi mãi ghi công anh với những chiến công xuất sắc trong những năm tháng đấu tranh đầy gian khổ, hy sinh giữa lòng Sài Gòn - Gia Định. Đảng và Nhà nước ta mãi mãi ghi nhớ công lao anh đã đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Vĩnh biệt anh Tư".

Đêm 25/2/1968, cuộc tổng tiến công vào thành phố Sài Gòn (về sau gọi là đợt 1) tạm ngừng. Quân cách mạng đã tiêu diệt một bộ phận đáng kể sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch. Nhưng thắng lợi quan trọng nhất, vang dội nhất của cuộc tiến công Tết thuộc về lĩnh vực chính trị, tinh thần. Lần đầu tiên, “Việt cộng” đánh chiếm các cơ quan đầu não và căn cứ quân sự của cả Mỹ và ngụy tại thủ phủ Sài Gòn. Và điều đó gây nên một “cú choáng” không chỉ đối với cơ quan điều hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam mà cả nhân dân thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ.

Phạm Bá Nhiễu

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.