Giáo sư Tạ Quang Bửu: Tận tâm, tận lực một đời

Hơn 10 năm làm Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, với tầm nhìn xa trông rộng, chiến lược tài ba và một tư duy biện chứng, rất nhiều điều cơ bản mà GS Tạ Quang Bửu để lại cho nền giáo dục nước nhà, đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự khiến chúng ta không thể không suy ngẫm.

Bộ GD&ĐT vừa tổ chức lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Giáo sư (GS) Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đầu tiên (nay là Bộ GD & ĐT) của Việt Nam. Ông sinh ngày 23/7/1910 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Suốt cuộc đời mình, bằng trí tuệ uyên bác ở nhiều lĩnh vực khoa học và một trái tim dâng cho Đảng, GS Tạ Quang Bửu đã cống hiến trọn vẹn sức lực, tình cảm, tri thức của mình để xây dựng nền khoa học và giáo dục nước nhà từ khi đất nước mới giành độc lập còn vô vàn khó khăn...

Thiếu tướng Tạ Quang Chính, Chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Công nghiệp  Quốc phòng, Bộ Quốc phòng, con trai của Giáo sư Tạ Quang Bửu mở lòng với chúng tôi về cha mình: "Bố tôi dành nhiều thời gian của ông cho việc chung nên thời gian ông dành cho chúng tôi không được nhiều. Nhưng ông đã gián tiếp ảnh hưởng đến chúng tôi, cuốn hút chúng tôi bằng chính hình ảnh làm việc tận tụy, miệt mài của mình. Tôi nhớ là bố tôi đọc sách nhiều lắm. Lúc nào cũng thấy ông cầm sách, có khi đọc từ sáng sớm đến tối muộn. Tài liệu của ông vô cùng đa dạng vì ông từng là nhà quản lý lại say sưa nghiên cứu nhiều lĩnh vực. Bố ít dành thời gian cho các con, cũng là một thiệt thòi, nhưng bù lại, chúng tôi học được cách sống tự lập, ít dựa dẫm, tự mình bươn chải vươn lên, càng không bao giờ dựa vào uy thế của bố". Nhắc đến đây, Thiếu tướng Tạ Quang Chính rưng rưng nước mắt.

Trong lòng ông kỷ niệm về người cha thân thương ùa về. Năm học lớp 5, Tạ Quang Chính và anh trai Tạ Quang Vinh được gửi vào học tại Trường Văn hoá Quân đội Nguyễn Văn Trỗi, sống xa gia đình, phải tự lập cuộc sống. Nhưng ngay cả sau này, khi bắt đầu bước vào cổng Trường Đại học Bách khoa, trở thành sinh viên thì mọi con đường của ông đều do ông tự lựa chọn, không dựa vào bố mình. Mẹ ông từng tâm sự rằng, chuyện "cụ Bửu" không có thời gian dành cho con cái cũng là lẽ thường tình, cũng là vì việc lớn của đất nước mà cụ phải hy sinh, ngay cả chuyện các con đi bộ đội do tự xin đi hay địa phương gọi, cụ không hề biết.

Thiếu tướng Tạ Quang Chính còn kể, khi trở thành sinh viên ĐH Bách khoa, ông có đủ điều kiện để đi học nước ngoài, nhưng bố ông lại động viên ông nên nhập ngũ. Chính Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã gặp Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị thời bấy giờ là đồng chí Lê Quang Đạo đề nghị giúp đỡ, tạo điều kiện cho con mình nhập ngũ. Dường như với Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, được cống hiến cho đất nước là một nhu cầu, một đòi hỏi của cuộc sống của ông, vậy nên ông muốn các con mình noi theo lẽ sống đó. Trong cuộc sống, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu là người thanh bạch, giản dị, sống liêm khiết và thanh đạm. Ông chưa một lần đòi hỏi điều gì cho bản thân...

Là cây đại thụ của nền giáo dục nước nhà, nhưng ông lúc nào cũng khiêm nhường, ẩn mình đi, nhường quyền lợi cho người khác. Ngay cả khi lâm bệnh nặng, nằm điều trị ở Bệnh viện Việt Xô, ông cũng chưa một lần đòi hỏi phải hội chẩn giáo sư hay chế độ chăm sóc đặc biệt. Ông đã ra đi thanh thản, nhẹ nhàng, nhưng để lại một khoảng trống mênh mang không thể lấp đầy trong lòng giới trí thức khoa học nước nhà…

Thiếu tướng Tạ Quang Chính tâm sự, ông và mọi người trong gia đình luôn suy ngẫm về bố mình. Ông cụ đã ảnh hưởng sâu sắc từ phương pháp làm việc của Bác Hồ. Sau cách mạng Tháng Tám, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu từ Huế ra Hà Nội và được Bác giao làm Thanh nghị trưởng Bộ Ngoại giao, trực tiếp làm thư ký, giúp việc cho Bác. Có hai lần Bộ trưởng bị Bác "chê dốt", nhưng đằng sau câu chuyện đó là những thông điệp sâu sắc.

Lần thứ nhất, Bác yêu cầu thư ký Tạ Quang Bửu dịch bản Tuyên ngôn độc lập sang tiếng Anh. Sau khi chỉnh sửa bản dịch, Bác bảo Bộ trưởng Tạ Quang Bửu phát bản dịch tiếng Anh đó lên đài phát thanh, thì Bộ trưởng băn khoăn, đài phát thanh của ta chỉ phát xa được vài chục cây số, làm sao kẻ địch nghe được. Nghe vậy, Bác cười: "Chú dốt thế, tai vách mạch rừng, chú cứ phát đi". Quả nhiên, chỉ một vài giờ sau khi bản Tuyên ngôn được phát đi, "kẻ địch" lại điên cuồng tức tối nhưng đành bất lực trước thế trận mới của nước Việt Nam mới.

Kể lại cho chúng tôi nghe câu chuyện của cha mình, Thiếu tướng Tạ Quang Chính cho rằng, phải là nhà cách mạng chuyên nghiệp, lúc nào cũng đau đáu vận mệnh đất nước thì mới có tư duy nhạy bén được như thế. Trong công việc, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu luôn tìm mọi cách hoàn thành công việc. Ông từng nói với 6 người con của mình là "không làm được cái gì là do mình không muốn làm".

Bộ trưởng Tạ Quang Bửu luôn được Bác Hồ, được Đảng giao những nhiệm vụ quan trọng. Khi được phân công là Thứ trưởng (năm 1946), rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (năm 1947, 1948), Bác giao cho ông phải "xây dựng Quân đội chính quy". Từ năm 1956 đến năm 1961, ông được giao làm Giám đốc ĐH Bách khoa Hà Nội. Năm 1959, ông được giao nhiệm vụ Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký Ủy ban Khoa học Nhà nước và từ năm 1965 đến năm 1976, ông là Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đầu tiên của Việt Nam.

Thiếu tướng Tạ Quang Chính cho hay, cách sử dụng người của Bác Hồ và của Đảng rất tài tình. Bác tạo cho cán bộ của mình một suy nghĩ, chức sắc không quan trọng. Có người "thắc mắc" với Bác Hồ, vì sao giao cho anh Bửu nhiều trọng trách như thế, thì Bác bảo, nếu chỉ vì chức sắc, Bác sẵn sàng giao cho chú, nhưng vì công việc của đất nước thì việc này Bác phải giao cho chú Bửu. Thấm nhuần tư tưởng không quá coi trọng danh vị của Bác Hồ mà Bộ trưởng Tạ Quang Bửu không bao giờ nghĩ mình là "quan" cả. Ông cứ theo công việc mà làm.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng GS Tạ Quang Bửu đến thăm Viện Toán học năm 1986.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cùng GS Tạ Quang Bửu đến thăm Viện Toán học năm 1986.

Trong suốt 11 năm làm Bộ trưởng Bộ GD & ĐT, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã kiên tâm phấn đấu cho một nền giáo dục "thực dạy, thực học", "học đi đôi với hành". Ông đã sớm chỉ ra rằng, đất nước không thể tiến lên được nếu không thanh toán một nền sản xuất không có kỹ thuật và một nền kỹ thuật thiếu cơ sở khoa học.

GS.TS Lê Thạc Cán, Vụ trưởng Vụ Quản lý khoa học, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thời bấy giờ nhớ lại, từ giữa năm 1966, các trường đại học phải sơ tán rời khỏi các thành phố về các miền nông thôn và rừng núi, giảng đường, phòng thí nghiệm phần lớn bằng tre nứa, vách đất, mái lợp phên và giấy dầu, bài giảng, giờ thí nghiệm thường bị ngắt quãng bởi còi và kẻng báo động. Lựa chọn nội dung và phương pháp gì để giảng viên, giáo viên giảng dạy cho sinh viên là một câu hỏi lớn. GS Tạ Quang Bửu đã đưa ra định hướng, phải lựa chọn những điều "cơ bản nhất, hiện đại nhất, sát với thực tiễn Việt Nam nhất" (còn gọi là "ba nhất" để giảng dạy và học tập).

Như một luồng gió mới, phương châm "ba nhất" của Bộ trưởng đã tạo ra một không khí thi đua phấn khởi trong toàn ngành và trong giới khoa học. Các trường đại học đã hợp tác với nhau xây dựng các "ban thư ký môn học", tập hợp những cán bộ giảng dạy đầu ngành tại các trường khác nhau cùng lựa chọn những nội dung sát với thực tế Việt Nam nhất để biên soạn. Lần lượt hàng chục bộ giáo trình về Toán học, Cơ học và một số môn khoa học cơ bản khác ra đời, nhanh chóng giúp cho sinh viên của chúng ta có đủ tri thức để tiếp cận và hoàn thành nhiều nhiệm vụ mới.

Là cây cổ thụ của nền giáo dục Việt Nam , mà bất cứ một chủ trương nào cũng đều ảnh hưởng đến cả một thế hệ, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đã có nhiều ý tưởng và việc làm đúng đắn, sáng suốt nhằm đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo tiến lên. GS đã từng nói rằng: "Vấn đề không phải là so cái hiện nay với cái trước cách mạng, mà ngày nay phải hơn ngày hôm qua và ngày mai phải hơn ngày hôm nay! Đây là cả một cuộc cải cách to lớn, mà ta gọi là "Cải cách giáo dục" với ý nghĩa chiến lược của nó. Những người như tôi phải làm hết sức mình để phác ra và thực hiện công cuộc đó".

GS Tạ Quang Bửu đã có công lớn trong việc chỉ đạo bậc đào tạo đại học nâng cao chất lượng đào tạo, duy trì kỷ luật nhà trường, đảm bảo sự công bằng xã hội trong tuyển sinh. Ông đã sáng suốt, bản lĩnh khi làm thay đổi cách tuyển chọn đầu vào đại học, tổ chức kỳ tuyển sinh đầu tiên vào năm 1970, được cả xã hội đồng tình và tiếp nhận.

Đã có bài báo viết rằng, Bộ trưởng Tạ Quang Bửu là người luôn phát hiện, bồi dưỡng, nâng đỡ, cảm hoá các tài năng khoa học. Ngay trong những năm chiến tranh ác liệt, ông đã mời nhiều nhà Toán học Pháp sang Việt Nam giảng về các vấn đề khoa học hiện đại nhất. Ông có mối quan hệ gắn bó mật thiết và có ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều nhà khoa học, kỹ thuật có uy tín của Việt Nam như: Hoàng Tụy, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Hiệu, Vũ Đình Cự, Phan Đình Diệu…

GS Nguyễn Văn Hiệu nhớ lại: "Đầu năm 1958, tại giảng đường ĐH Tổng hợp Hà Nội, GS Tạ Quang Bửu thuyết trình về phát minh Vật lý mới đoạt giải thưởng Nobel của hai nhà bác học người Mỹ gốc Hoa. Buổi thuyết trình hôm ấy đã mang đến cho tôi một niềm hứng thú vô biên mặc dù vào lúc đó, tôi chưa thật hiểu rõ nội dung phát minh nói trên. Cho nên, ngay sau khi được cử sang làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu hạt nhân Dubna ở Liên Xô, tôi say mê lao vào nghiên cứu lĩnh vực nói trên và chẳng bao lâu sau, công bố 12 công trình về neutrino".

Nhân nói về cách bồi dưỡng, nâng đỡ cảm hoá nhân tài của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu, tôi chợt nhớ đến câu chuyện PGS.TS Vũ Đình Hoà, Huy chương Bạc Toán quốc tế đầu tiên ở Việt Nam, hiện đang là Trưởng bộ môn Khoa học máy tính, ĐH Sư phạm Hà Nội kể cho tôi nghe.

Năm 1974, khi đó anh chuẩn bị tham dự kỳ thi Toán quốc tế. Bộ trưởng cho mời anh đến gặp gỡ nói chuyện. Anh lo lắm thế nhưng mọi khoảng cách đã bị xoá nhoà, mọi lo âu đã tan biến khi Bộ trưởng đến bên anh trìu mến hỏi thăm sức khoẻ của anh, động viên anh học tập và tặng cho anh rất nhiều sách. Trên đường về nhà, Vũ Đình Hoà đã khóc vì xúc động trước những cử chỉ ấm áp mà ân tình của người đứng đầu ngành Giáo dục. Sau này, có đôi lúc gặp khó khăn và cả thất bại trong cuộc đời làm khoa học, PGS Vũ Đình Hoà lại nhớ đến ánh mắt trìu mến của Bộ trưởng Tạ Quang Bửu mà vượt qua…

Giáo sư Tạ Quang Bửu sinh ngày 23/7/1910, tại thôn Hoành Sơn, xã Nam Hoành, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Cụ thân sinh của ông là Tạ Quang Diễm, đỗ cử nhân, là một nhà Nho dạy học một đời thanh bạch. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Đào, một người yêu văn chương, nổi tiếng với nhiều bài thơ trên các báo Tiếng dân, Phụ nữ Thời đàm với bút danh Sầm Phố. Xã Nam Hoành, nơi chôn rau cắt rốn của GS Tạ Quang Bửu sau này đổi tên thành xã Khánh Sơn, một xã giàu truyền thống cách mạng, năm 1995 đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng. Đây còn là vùng quê có truyền thống hiếu học, còn lưu danh rất nhiều người đã đỗ đạt cao trong các kỳ thi, đặc biệt có hai người đỗ "Thám hoa", trong đó "cụ Thám nhất" là ông Nguyễn Đức Đạt là cố ngoại của GS Tạ Quang Bửu. Tưởng nhớ công lao cụ Nguyễn Đức Đạt, các học trò của cụ đã xây lăng cụ ở xã và hiện nay, ở TP Vinh, Nghệ An có một con đường mang tên Nguyễn Đức Đạt.

T.P.

Thu Phương

Các tin khác

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Cồn Cỏ – mùa gió mới từ một hòn đảo tiền tiêu

Chỉ hơn một giờ lênh đênh, còn tàu rời biển Cửa Việt (Quảng Trị) đã cặp đảo Cồn Cỏ. Tháng Tư, hòn đảo nhỏ hiện trước mắt chúng tôi xanh thẫm bởi rừng, lấp lánh bởi nắng và mang một vẻ bình yên rất riêng của vùng biển tiền tiêu. Nhưng điều khiến người ta ngạc nhiên không chỉ là vẻ đẹp ấy, mà là cảm giác Cồn Cỏ đang chuyển mình.

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hành trình lập nghiệp của những người con xa xứ

Hàng trăm người từng rời quê hương Hà Tĩnh, Nghệ An và nhiều nơi khác với hai bàn tay trắng, bắt đầu từ những ngày làm thuê nhọc nhằn ở vùng đất LangBiang (Lâm Đồng). Hôm nay, chính những con người ấy đã trở thành ông chủ, dựng xây cơ nghiệp vững chắc, góp phần viết nên câu chuyện hồi sinh ấn tượng cho vùng đất này.

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Du lịch từ bản, từ làng trên dãy Trường Sơn

Ở dải đất phía Bắc Quảng Trị, men theo dãy Trường Sơn, những bản làng từng in dấu chiến tranh nay đang dần trở thành điểm đến hấp dẫn. Không còn chỉ là vùng đất của ký ức và chứng tích, nơi đây đang hiện diện trên bản đồ du lịch bằng chính bản sắc riêng – mộc mạc, chân thực và giàu trải nghiệm.

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Cần Yên vững vàng nơi phên giậu Tổ quốc

Sau cơn bão số 10, 11 cuối năm 2025 cuốn trôi mùa màng, nhà cửa, xã Cần Yên (Cao Bằng) đang từng bước hồi sinh. Trên mảnh đất biên cương còn nhiều gian khó, mầm sống đã trở lại, niềm tin được vun bồi từ sự đồng lòng của nhân dân và sự kề vai sát cánh của lực lượng Công an, Biên phòng.

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nghề “đo ni đóng giày” cho ngựa trên cù lao Thới Sơn

Nằm giữa dòng sông Tiền thơ mộng, cù lao Thới Sơn (thuộc phường Thới Sơn, tỉnh Đồng Tháp) không chỉ được ví như “viên ngọc quý” của du lịch miệt vườn mà còn là nơi lưu giữ nhịp sống chậm rãi, tách biệt với sự hối hả của thời đại số.

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Những “lá chắn” giữa đại ngàn Trường Sơn

Con đường vào các xã miền núi A Lưới - nằm ở phía Tây thành phố Huế - những ngày cuối năm vẫn còn sương giăng bảng lảng. Núi Trường Sơn đứng trầm mặc, rừng già xanh thẳm, bản làng nép mình bên sườn núi như bao đời nay. Nhưng phía sau vẻ tĩnh lặng ấy là một sự chuyển mình âm thầm mà bền bỉ - bắt đầu từ những con người được bà con gọi bằng cái tên thân thương: Già làng.

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Cuộc gặp gỡ nghĩa tình ở Pác Bó sau 20 năm xa cách (bài 2)

Năm 1961, Bác Hồ trở lại Pác Bó. Cuộc gặp gỡ sau hai mươi năm xa cách diễn ra trong niềm xúc động nghẹn ngào của đồng bào các dân tộc nơi địa đầu Tổ quốc. Trong vòng tay ấm áp của nhân dân Pác Bó, Bác gửi gắm niềm tin và kỳ vọng: Cao Bằng tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, trở thành một trong những tỉnh gương mẫu trong công cuộc xây dựng đất nước.

Bom Bo mùa xuân về

Bom Bo mùa xuân về

Chớm xuân, khi đất trời phương Nam bắt đầu chuyển mình sau những cơn gió lạnh cuối mùa, chúng tôi tìm về xã Bom Bo (tỉnh Đồng Nai) - mảnh đất đi vào lịch sử như một biểu tượng của lòng yêu nước, tinh thần "giã gạo nuôi quân" bất khuất của đồng bào dân tộc S'tiêng trong những năm tháng kháng chiến.

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Trắng đêm ở xưởng in báo Công an nhân dân

Đêm muộn, chúng tôi có mặt tại Xí nghiệp in 1, Công ty In Ba Đình - nơi in báo Công an nhân dân (CAND) và các ấn phẩm chuyên đề nhiều năm qua. Xưởng nằm trong Khu Công nghiệp an ninh tại xã Sơn Đồng, ngoại thành Hà Nội. Đêm ở Sơn Đồng yên lặng như tờ, nhưng khi bước chân vào xưởng sẽ cảm nhận rõ ở đây có một nhịp điệu khác. Khi ánh điện thay ánh mặt trời, khi máy in ầm ào thay thanh âm nhịp sống thì xưởng in rộn rã vào ca.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng: “30 năm cầm bút, tôi vẫn trong bóng đổ của các bậc thầy chữ nghĩa ở An ninh Thế giới”

Từ một cây bút văn hóa quen viết về nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, Đỗ Doãn Hoàng đã rẽ sang con đường gai góc nhất của nghề báo: phóng sự xã hội, phóng sự điều tra. Những năm tháng lăn lộn cùng Báo An ninh Thế giới (nay là Chuyên đề An ninh Thế giới của báo CAND), anh để lại dấu ấn với những chuyến đi khắc nghiệt, những bài viết nhân văn nhưng cũng đầy hiểm nguy.

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Vướng mắc ở 2 cảng cá sử dụng kinh phí bồi thường của Formosa

Mặc dù đã hoàn thiện, phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng cả hai cảng cá Cửa Nhượng và Thạch Kim (Hà Tĩnh) đến nay vẫn chưa được cấp Giấy phép môi trường (GPMT) theo quy định. Nguyên nhân là do qua rà soát, các dự án này chưa có hồ sơ thủ tục pháp lý về đất đai, giao khu vực mặt nước sông, giao khu vực biển theo quy định của pháp luật.

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

“Thần y mạng” chữa bệnh bằng độc dược

Ngộ độc cá nóc, thịt cóc đã không còn xa lạ với người dân miền biển và miền núi, những nơi mà mỗi năm ngành y tế cấp cứu hàng chục trường hợp bị ngộ độc, thậm chí có những cái chết không đáng có vẫn xảy ra. Cá nóc, thịt cóc ngoài được sử dụng trong bữa ăn thì chúng còn được các “thần y” cõi mạng rao bán và quảng cáo như một loại thần dược giúp tăng cường sức khỏe, chống lão hóa và chữa một số bệnh nan y...

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Vượt ngàn cây số đi theo tiếng gọi của rừng già

Khu bảo tồn nhiên nhiên - văn hóa Đồng Nai vừa tiếp nhận đội ngũ tri thức trẻ từ vùng núi Tây Bắc xa xôi xin về đầu quân. Họ là những thanh niên cần mẫn, yêu rừng, con em đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc được đào tạo chính quy về góp sức bảo vệ những cánh rừng già - lá phổi xanh của vùng Đông Nam Bộ.

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Kỳ cuối: Thiêng liêng và bao dung tình yêu của người lính

Nếu câu chuyện trong bài trước khép lại ở ký ức chiến tranh – nơi tình yêu, sự mất mát của bà Phan Thị Biển Khơi với liệt sĩ Lê Binh Chủng trở thành một điển hình mối tình thời chiến, thì bài viết này mở ra một chương mới.

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Kỳ I: Từ Thành cổ Quảng Trị đến mái ấm yêu thương

Chiến tranh đưa họ đến gần nhau bằng một tình yêu trong trẻo như hạt sương đầu ngày đọng trên lá cỏ non. Nhưng cũng chính cuộc chiến ấy đã làm dang dở hạnh phúc của họ, một người nằm lại giữa Thành cổ Quảng Trị khốc liệt, một người bươn bả nuôi con trong những tháng ngày gian khó.

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Tình yêu rừng của người cựu chiến binh ở miền Đông Nam bộ

Nếu không nặng lòng khi nhìn cảnh rừng bị tàn phá, cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Quang Dương (bí danh Năm Dương, 78 tuổi đời, 43 tuổi Đảng; ngụ ấp 1, xã Minh Đức, tỉnh Đồng Nai) đã ung dung hưởng thành quả từ diện tích 6ha tiêu cho năng suất 25 tấn/năm.

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Vĩnh Hoàng - vùng biển trăm nghề

Không có lợi thế cửa lạch để neo đậu tàu thuyền lớn, ngư dân vùng biển bãi ngang xã Vĩnh Hoàng (Quảng Trị) từ lâu đã chọn cho mình cách riêng để mưu sinh. Họ bám trụ ở những rạn biển gần bờ, nơi được ví như “rừng nhiệt đới dưới lòng đại dương” và từ đó dựng nên cuộc sống khá giả bằng đủ loại nghề đánh bắt theo mùa.

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Bàu Chùa đến Câu Nhi - Những mảnh đất giữ hồn người lính

Từ Bàu Chùa mênh mang bóng tre làng đến Câu Nhi lộng gió ven sông, đất Quảng Trị đã khắc ghi hai bản anh hùng ca bằng máu đỏ tuổi hai mươi. 66 người lính Trung đoàn 6 ngã xuống trong 9 ngày đêm ở Bàu Chùa mùa xuân 1966; tiếp đó, 93 chiến sĩ Trung đoàn 88 vĩnh viễn nằm lại dưới chân cầu Câu Nhi mùa hè đỏ lửa 1972.

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

“Chơi dao có ngày đứt tay” hay chiêu trò tạo content bẩn

Trong thời đại mạng xã hội bùng nổ, nơi mỗi cú nhấp chuột đều có thể biến thành tiền, không ít người đã bất chấp chuẩn mực đạo đức để sản xuất những đoạn clip dung tục, phản cảm, nhằm câu view và kéo khách hàng. Những “chiêu trò” này không chỉ làm ô nhiễm không gian mạng mà còn tiềm ẩn nhiều hệ lụy nguy hiểm cho xã hội.

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Bình yên dưới chân núi Pu Phen

Nhờ những chính sách của Đảng, Nhà nước cùng sự vào cuộc của chính quyền địa phương, xã Yên Na (tỉnh Nghệ An) từng được coi là “điểm nóng” của ma túy giờ đã thay da đổi thịt, an ninh trật tự được đảm bảo. Người dân ở đây đã tham gia cùng chính quyền xây dựng đời sống mới, cuộc sống bình yên nép mình dưới chân núi Pu Phen.