Ngày 17/12, Bộ LĐ-TB&XH đã tổ chức hội thảo “Đối thoại chính sách về bảo vệ quyền lợi của lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài”. Theo đánh giá của Bộ LĐ-TB&XH, phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài chiếm khoảng 35% tổng số lao động di cư, nhưng đây lại là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, có nguy cơ bị lạm dụng, đặc biệt là với những người làm các công việc có tính chất đặc thù. Trong khi đó, vấn đề bảo vệ quyền lợi cho chị em khi lao động ở nước ngoài còn quá nhiều lỗ hổng, cảnh báo những nguy cơ rủi ro, mất an ninh, an toàn và chưa đảm bảo quyền bình đẳng giới đối với nhóm đối tượng này.
Những lỗ hổng trong quản lý lao động nữ
Theo một nghiên cứu mới nhất của Bộ LĐ-TB&XH, lao động nữ tham gia làm việc ở nước ngoài thường gắn với những công việc có tính truyền thống về giới như giúp việc gia đình, y tá điều dưỡng, nhân viên khách sạn, thợ may, thợ dệt, lắp ráp thiết bị điện tử. Lao động nữ của Việt Nam rất cần cù chịu khó, ý thức tổ chức kỷ luật tốt nên chủ sử dụng lao động rất có thiện chí. Nhưng những tồn tại đối với nhóm đối tượng này cũng không phải là ít.
Đó là, chị em rất ít cơ hội được tiếp cận với những thông tin tuyên truyền chính thức về xuất khẩu lao động, thiếu kỹ năng sống nên khi ra nước ngoài dễ bị lừa gạt. Chị em lại nhẹ dạ cả tin nên thời gian giải quyết các vụ việc liên quan đến lao động nữ kéo dài hơn (cách giải quyết cũng cần tinh tế hơn). Một tồn tại nữa rất đáng phải suy nghĩ là khi hoàn thành hợp đồng làm việc ở nước ngoài trở về quê hương họ rất khó kiếm được việc làm ổn định có tính bền vững.
Theo bà Phạm Nguyên Cường, chuyên gia về giới của Bộ LĐ-TB&XH thì khi rà soát lại các văn bản pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo nguyên tắc bình đẳng giới, đặc biệt là đối với phụ nữ thì “lỗ hổng” về mặt quản lý, bảo vệ lao động nữ chính là do thông tin chưa được nắm bắt thường xuyên, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo nên thông tin, số liệu và tình hình về lao động nữ rất thiếu vắng. Nhiều doanh nghiệp khi đưa lao động nữ sang nước ngoài làm việc không thông báo cho cơ quan ngoại giao để bảo vệ lao động nữ, đồng thời không cung cấp địa chỉ, số điện thoại của Ban Quản lý lao động và cơ quan ngoại giao để lao động nữ có thể liên lạc và đề nghị hỗ trợ khi cần thiết. Thêm nữa, bản thân lao động nữ Việt Nam cũng chưa quan tâm đến sự cần thiết phải có các thông tin này.
Cũng theo bà Phạm Nguyên Cường, pháp luật hiện hành quy định về hợp đồng liên quan đến hoạt động của người Việt Nam ở nước ngoài khá đầy đủ, nhưng lại chưa thể hiện được nguyên tắc bình đẳng giới, đặc biệt là với lao động nữ. Những nội dung chuyên biệt cho lao động nữ còn thiếu (chưa có nội dung giáo dục, tư vấn riêng cho lao động nữ), đồng thời còn thiếu nhiều các biện pháp bảo đảm quyền của lao động nữ, thiếu cả những văn bản ngăn cấm sự phân biệt đối xử với lao động nữ, nhiều chị em buộc phải ở lại trái phép và bị người sử dụng lao động dọa dẫm…
Cần bổ sung nhiều chính sách mới bảo hộ phụ nữ
Tại hội thảo, bà Ruth Bowen, chuyên gia về di cư lao động đã công bố một vài nghiên cứu sâu sắc về tình hình phụ nữ Việt Nam trong di cư lao động quốc tế. Tại Đài Loan, phụ nữ không được thông báo rõ ràng về các điều kiện làm việc, nhiều người sang làm y tá và khán hộ công đã phải thường trực 24h và không có không gian riêng, phải chung phòng với người trông nom. Nhiều lao động nữ phải bỏ trốn vì mức lương không đáp ứng mong đợi của họ. Lĩnh vực tuyển dụng bất hợp pháp vẫn tồn tại khiến lao động nữ dễ bị bóc lột.
Riêng nghề giúp việc gia đình ở Cộng hoà Síp, theo bà Ruth Bowen đã xảy ra các trường hợp lao động nữ bị quấy rối tình dục hoặc lạm dụng thể xác bởi chủ sử dụng, nhưng việc thay đổi nơi làm việc lại khiến họ bị mất một tháng lương. Tại đất nước này hiện thiếu đại diện lãnh sự của Việt Nam và không có cơ quan nào giúp đỡ những người đi theo kênh không chính thức.
Bà Ruth Bowen kiến nghị, các cơ quan chính phủ của Việt Nam nên rà soát lại các thỏa thuận phái cử lao động với các nước xuất phát từ quan điểm bình đẳng giới, đảm bảo bình đẳng giới khi đàm phán các thỏa thuận song phương, bao gồm nguyên tắc không phân biệt đối xử. Riêng với những dịch vụ trước khi xuất cảnh có tính nhạy cảm giới và văn hóa, phải tăng cường các kênh thông tin dựa trên cộng đồng để đến nước với lao động nữ.
Bà Phạm Nguyên Cường cho hay, khi đàm phán và ký kết các hiệp định, thoả thuận và hợp đồng, cần bổ sung trách nhiệm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới và bảo vệ trực tiếp quyền lợi của lao động nữ.
Cụ thể, về tối đa quyền lợi của người lao động Việt Nam không được thấp hơn quyền lợi mà lao động các nước khác đang thụ hưởng. Cần phải hạn chế dẫn đến loại bỏ hoàn toàn tình trạng phụ nữ bị giới hạn chỉ được làm việc ở một số nghề và nhóm nghề truyền thống theo giới. Đồng thời, cần có chính sách biện pháp phù hợp về việc lao động nữ trở về và tái hoà nhập (họ được hỗ trợ đào tạo lại, được giúp đỡ về vốn, tài chính khi tìm kiếm công việc mới…).
| Theo ông Đào Công Hải, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước thì sắp tới, cần có chính sách cụ thể hơn đối với nữ giới để phụ nữ đi làm việc ở nước ngoài thu được lợi ích tối đa. Việc sửa đổi Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp động cũng cần phải được xem xét yếu tố nữ giới. Công tác tư vấn, đào tạo trước khi đi làm việc ở nước ngoài cần được chú trọng hơn đến đối tượng là nữ giới. |