Theo số liệu vừa được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố, CPI tháng 7/2026 giảm 0,12% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là giá xăng dầu trong nước giảm theo diễn biến giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá lương thực, thực phẩm giảm nhờ nguồn cung dồi dào. So với tháng 12/2025, CPI tăng 3,08% và tăng 4,45% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 3 nhóm giảm giá và 8 nhóm tăng giá. Nhóm giao thông giảm mạnh nhất, ở mức 2,02%, do giá xăng giảm 4,35% và dầu diesel giảm 9,18%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,07%, trong khi nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,07% do giá gas giảm 11,41%.
Ở chiều ngược lại, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng mạnh nhất với 1,96%, chủ yếu do mức đóng bảo hiểm y tế tăng theo mức lương cơ sở mới. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,52% nhờ nhu cầu du lịch hè; giáo dục tăng 0,24% do một số cơ sở đào tạo điều chỉnh học phí; đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,16%.
Bình quân 7 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng cao nhất 6,72%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,77%; giao thông tăng 5,01%.
Lạm phát cơ bản tháng 7 tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 4,63% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 7 tháng, lạm phát cơ bản tăng 4,19%, thấp hơn mức tăng của CPI bình quân do không tính các yếu tố biến động mạnh như giá xăng dầu, gas và thực phẩm.
Về chỉ số giá vàng, USD, Cục Thống kê cho biết, giá vàng trong nước diễn biến cùng chiều với giá vàng thế giới. Trong tháng 7, chỉ số giá vàng giảm 3,02% so với tháng trước, nhưng vẫn tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; bình quân 7 tháng tăng 51,86% so với cùng kỳ năm 2025.
Trong khi đó, giá USD trong nước tăng nhẹ theo xu hướng quốc tế nhờ đồng USD tiếp tục được hỗ trợ bởi chính sách tiền tệ thận trọng của FED. Chỉ số giá USD tháng 7 tăng 0,18% so với tháng trước và bình quân 7 tháng tăng 1,55% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 659,58 tỷ USD, tăng 28,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7%, còn nhập khẩu đạt 340,05 tỷ USD, tăng 34,8%. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Tính chung 7 tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu 20,52 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 10,35 tỷ USD.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 104,7 tỷ USD. Trong khi đó, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 138,6 tỷ USD.
Trong tháng 7, cả nước có hơn 14,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký gần 166,3 nghìn tỷ đồng, giảm 15,5% về số doanh nghiệp và giảm 41,9% về vốn so với tháng trước. Cùng tháng, hơn 10,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Ở chiều ngược lại, có 8.723 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, hơn 10,3 nghìn doanh nghiệp chờ giải thể và 7.209 doanh nghiệp hoàn tất giải thể.
Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, cả nước có hơn 125,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước, với tổng vốn đăng ký gần 1,52 triệu tỷ đồng, tăng 63,6%. Gần 61,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và hoạt động trở lại lên gần 187,2 nghìn, tăng 7,5% so với cùng kỳ. Bình quân mỗi tháng có khoảng 26,7 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường.
Vốn FDI thực hiện 7 tháng đạt 15,2 tỷ USD, cao nhất 5 năm
Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục duy trì đà tăng trong 7 tháng đầu năm 2026, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 7 ước đạt 98,6 nghìn tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng đạt 445,5 nghìn tỷ đồng, bằng 39% kế hoạch năm và tăng 18,4% so với cùng kỳ.
Tính đến ngày 31/7, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam đạt 38,06 tỷ USD, tăng 58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 2.429 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký 21,05 tỷ USD, gấp 2,1 lần cùng kỳ; vốn điều chỉnh đạt 10,43 tỷ USD, tăng 4,4%; góp vốn, mua cổ phần đạt 6,58 tỷ USD, tăng 61,6%.
Singapore tiếp tục là nhà đầu tư lớn nhất với 7,5 tỷ USD, chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký mới, tiếp theo là Hàn Quốc với 5,61 tỷ USD.
Vốn FDI thực hiện 7 tháng ước đạt 15,2 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ và là mức cao nhất của cùng kỳ trong 5 năm qua. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất với 12,55 tỷ USD, tương đương 82,6% tổng vốn FDI thực hiện.
Ở chiều ngược lại, tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 7 tháng đạt 2,36 tỷ USD, gấp 4,5 lần cùng kỳ năm trước, tập trung vào các lĩnh vực vận tải kho bãi, năng lượng và nông, lâm, thủy sản.