Gắn bó với lớp học đan hình 6-9
Đến điểm trường lúc 8h sáng, sương muối vẫn chưa tan, mở cửa lớp học cô giáo Nguyễn Thị Mai Lâm buồn bã vì chưa có học sinh nào tới. Đi vào chân đôi ủng được chuẩn bị sẵn, cô leo lên đồi đến từng nhà gọi học sinh đến trường.
Với các thầy cô nơi đây, cảnh lớp học heo hút, vắng học sinh đã quá quen thuộc, cô Lâm cười rồi nói: "Trời lạnh quá, phải vượt suối băng rừng tới trường nên các em nghỉ học là chuyện bình thường. Sau những dịp nghỉ lễ, chuyện lạc rừng khi "kéo" các em trở lại lớp, thầy cô nào ở đây cũng phải trải qua".
Thầy Hà Văn Biểu, Hiệu trưởng phân hiệu Trường Gia Phú 1 đưa chúng tôi đi tham quan trường. Nhìn chiếc cổng trường bằng chiếc bảng con con gắn trên hai cây gạo, hàng rào được đan bằng tre và nứa, thầy Biểu chia sẻ: "Phân hiệu Trường Gia Phú 1 tại thôn Khe Luộc chỉ có 30 em học sinh, với vỏn vẹn 3 giáo viên. Thiếu lớp, học sinh ít, các em phải ngồi lớp ghép. Nếu không trực tiếp có mặt tại đây, tôi không thể tưởng tượng ra một lớp học với hai dãy bàn ghế quay ngược lưng lại nhau, một dãy xuôi, một dãy ngược. Lớp 4 ngồi xuôi, lớp 5 ngồi ngược.
Các em học sinh của trường đều là người dân tộc Dao đỏ và Xa phó, sống rải rác trên các sườn núi và thượng nguồn con suối đá trứng này. Trường được xây dựng cách đây 20 năm, gần đây thôi các em mới thoát cảnh học nhà đan bằng nứa, tre".
Lớp học không có điện, ánh sáng mờ sương qua ô cửa sổ nhỏ là nguồn sáng duy nhất cho học sinh. Khe Luộc ở trên cao, quanh năm chỉ có gió thổi. Gió lùa qua khe cửa, các em học sinh lạnh run rẩy trong những chiếc áo cánh mỏng, đôi má nứt nẻ đỏ ửng khô ráp.
Thôn Khe Luộc có khoảng 60 hộ thì đều thuộc diện nghèo khó. Để "kéo" được học sinh tới lớp, các thầy cô gặp rất nhiều khó khăn. Đến được trường, các em học sinh phải vượt qua con suối bằng những chiếc mảng. Vào mùa nước cạn thì trời lạnh buốt; mùa nước lên, các em khó khăn lắm mới đến được lớp, có khi những ngày lũ về, trường lại phải đóng cửa.
Dừng lại trước cửa căn bếp lụp xụp của nhà dân gần đó, thầy Biểu chia sẻ: "Hằng ngày đến lớp các thầy cô lại xách theo gạo và thức ăn từ nhà đến trường, mượn nhà dân nồi, chảo để nấu cơm cho mình và các em học sinh nhà xa phải ở lại trường buổi trưa".
Để cho phụ huynh an tâm gửi gắm con em đến lớp, các thầy cô giáo đã mượn Nhà văn hóa của thôn để nhận những em đang trong độ tuổi mẫu giáo.
Lên dạy điểm trường nghĩa là thành con em của vùng đó, từ ngôn ngữ, phong tục các thầy cô đều phải làm quen. Đến ma chay, nhà mới, cưới xin... tất tật bà con cũng mời thầy. Có bó rau tươi, củ măng mới lấy, phụ huynh không quản đường xa đến cho. Biết thầy thích nuôi chim, có những em mang cả ổ chào mào, chích chòe non đến tặng.
Có lẽ, vì tình cảm nồng ấm của người dân bản nơi đây dành cho mà nhiều lần được chuyển công tác, không ít thầy cô nơi đây vẫn gắn bó với trường. Thầy Biểu tự hào nói: "Có khi những em học sinh mình từng dạy ở đây đã lên chức mẹ, và giờ thì mình lại dạy chữ cho con của họ".
Để mỗi học sinh tới lớp, là một ngọn núi phải vượt qua
Đến thăm lớp học ghép 2+3 của cô giáo Lâm, chúng tôi ấn tượng với em học sinh Lù Thị Đông, người dân tộc Xa Phó. Đông nặng chỉ gần 15kg. Người em quá nhỏ, ngồi lọt thỏm trên chiếc bàn học. Để viết cho thật đẹp, em phải đứng để nắn nót từng nét chữ. Đông đang theo học lớp 2, là học sinh giỏi nhất lớp của cô Lâm. "Gia đình Đông thuộc diện khó khăn nhất trường. Nhà có 3 chị em, bố Đông mới mất năm ngoái, chỉ còn mẹ không thể lo cho 3 đứa đi học được. Em phải nghỉ học một thời gian dài" – cô Lâm tâm sự với giọng bùi ngùi.
Kỉ niệm về cô học trò nghèo vượt khó in dấu ấn sâu đậm trong cô. Sau khi bố mất, Đông ở nhà không đi học. Thương học sinh nghèo mà học giỏi, cô vượt hai quả núi đến tận nhà đón Đông đi học. Hôm đó, nhà không có ai. Hỏi Đông ăn cơm với gì, em chỉ nói một từ "ớt"”. Mắt cô Lâm chợt đỏ hoe. Tôi cũng thấy sống mũi cay cay.
Khi cô giáo Lâm gọi các bạn lên bảng làm toán lớp 3. Cậu bé tên Thật, người dân tộc Xa Phó mạnh dạn xung phong. Cô Lâm kể: “Để đến được lớp mà cậu bé này đã từng một lần sống lại. Nhà Thật ở tận đầu nguồn con suối, đi học phải men dọc bờ suối đến trường. Năm học lớp một, trên đường đi học, em bị nước cuốn, các thầy cô và dân bản vớt em lên. Tưởng không qua khỏi nhưng giờ Thật vẫn khỏe mạnh và đang là Đội trưởng đội lao động sức khỏe của lớp”.
Trẻ nhất trường là cô giáo Phạm Thị Linh, 21 tuổi, mới tốt nghiệp, được đảm nhận dạy lớp 1. Ấy vậy mà trong hành trang sư phạm của cô đã có kha khá kỷ niệm và cả nỗi niềm trăn trở. Linh chia sẻ: "Trước đây em không nghĩ rằng theo nghề giáo vấp nhiều khó khăn trong công việc đến thế. Các em đến lớp không đủ, lại nói ngọng nhiều. Để học sinh phát âm chuẩn, em phải chỉnh sửa rất nhiều. Sau những ngày đầu đi dạy, em lạc cả giọng để dạy các em phát âm".
Những đứa trẻ ở đây chịu cái lạnh rất giỏi, nhìn đôi chân trần vượt rừng tới lớp của các em học sinh, cô giáo Linh tâm sự: “Các em học sinh ở đây thiếu thốn đủ bề, mỗi tháng được Nhà nước hỗ trợ 70 nghìn đi học, con đường đến trường của các em thật gian nan”.
Không thể nói hết những hi sinh thầm lặng của những người giáo viên cắm bản vùng cao. Cái chữ được gieo mầm, hé lộ tương lai đổi thay cho những bản vùng cao xa xôi. Những điểm trường cắm bản như ngọn lửa thử lòng nhiệt huyết của con người